:: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Nơi sưu tầm những hình ảnh về các loài hoa

:: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi vietduongnhan » Thứ 6 Tháng 1 22, 2010 1:52 pm

Hình ảnh
Hoa trúc đào dưới sân nhà vdn
Niềm vui dâng tặng cho đời
Nỗi buồn xin gởi mây trời mang đi.
vdn


>> Blog - >> Mặc Giang (Toàn Thư)
Hình đại diện của thành viên
vietduongnhan
 
Bài viết: 118
Ngày tham gia: Thứ 7 Tháng 1 09, 2010 5:30 am
Đến từ: Paris

:: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi vietduongnhan » Thứ 6 Tháng 1 22, 2010 1:54 pm

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh
Ảnh MYT
Niềm vui dâng tặng cho đời
Nỗi buồn xin gởi mây trời mang đi.
vdn


>> Blog - >> Mặc Giang (Toàn Thư)
Hình đại diện của thành viên
vietduongnhan
 
Bài viết: 118
Ngày tham gia: Thứ 7 Tháng 1 09, 2010 5:30 am
Đến từ: Paris

:: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi vietduongnhan » Thứ 6 Tháng 1 22, 2010 1:55 pm

Hình ảnh
Anh đào
Niềm vui dâng tặng cho đời
Nỗi buồn xin gởi mây trời mang đi.
vdn


>> Blog - >> Mặc Giang (Toàn Thư)
Hình đại diện của thành viên
vietduongnhan
 
Bài viết: 118
Ngày tham gia: Thứ 7 Tháng 1 09, 2010 5:30 am
Đến từ: Paris

:: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi vietduongnhan » Thứ 6 Tháng 1 22, 2010 1:58 pm

MAI VÀNG, MÙA XUÂN VÀ VIỆT NAM

Hình ảnh

Lý Lạc Long

Mai, Lan, Cúc, Trúc là biểu tượng của bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Mai vàng, một loài hoa đẹp cao quý chỉ nở mỗi năm một lần đúng vào dịp Xuân về, với dân Việt, hoa mai đã trở thành sứ giả biểu tượng cho mùa xuân của vùng đất phương Nam từ nghìn năm trước. Trong văn chương, hoa mai đã có mặt trong thơ của thiền sư Không Lộ, thiền sư Mãn Giác từ thời nhà Lý, thiền sư Huyền Quang thời nhà Trần, trong thơ của Nguyễn Trãi thời nhà Lê, trong những tác phẩm nổi tiếng như Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, trong Lục Vân Tiên của Nguyễn đình Chiểu... và rất nhiều những vần thơ, những áng văn của các văn thi nhân khác từ cổ chí kim viết để ca tụng hoa mai. Trong số này, có hai câu thơ, tương truyền là của Chu Thần Cao Bá Quát, mà khi đọc sẽ thấy ngay địa vị của hoa mai trong tâm tưởng của thi nhân Việt.

”Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”.

(Mười năm chu du tìm gươm cổ
Một đời chỉ cúi lạy hoa mai.)

Thiền sư Huyền Quang, ông tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã "phong" cho hoa mai ngang hàng "ngự sử".

"Ngự sử mai hai hàng chầu ráp
Trượng phu tùng mây rặng phò quang"

Mai cũng có mặt trong hai câu thơ khắc trên chiếc dĩa cổ cuả triều Nguyễn, trưng bày ở Huế mà tác giả theo tương truyền là của Nguyễn Du.

"Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen"

Nhưng hiện nay tác giả của hai câu thơ trên là đề tài đang được tranh luận . Giữa Nguyễn Du, Định Viễn Quận Vương và Đông Các Đại Học Sĩ Đinh Phiên, ai là tác giả vẫn chưa có kết luận.( Ðịnh Viễn Quận Vương là hoàng tử thứ 6 của vua Gia Long. Ðông Các đại học sĩ Ðinh Phiên là người đã phụng mệnh vua Gia Long làm phó sứ cho Cần Chánh đại học sĩ Nguyễn Xuân Tình sang Thanh năm 1819) .

Xuân đến- xuân đi, những ngày Xuân trôi qua, nhìn những cánh hoa mai vàng rơi lìa khỏi thân cành như nhắc nhở dòng thời gian đến-đi, hoa nở- hoa tàn, tóc xanh- tóc bạc . Vòng đời luân chuyển, mọi việc trên đời đều vô thường. Vô thường của thời gian, vô thường của cỏ cây hoa lá, vô thường của kiếp người. Một sự chu chuyển tất yếu của thiên nhiên và sinh mệnh. Ai cũng đến đi, ai cũng trẻ già, ai cũng sống chết. Ngắn ngủi một kiếp người, đã là thế nhân làm sao thoát khỏi vòng sinh tử. Phàm nhân tục tử, như hầu hết chúng ta, chắc ai cũng có những cảm giác băn khoăn, nuối tiếc, lo lắng, sợ hãi... khi nghĩ đến thời điểm phải rời xa trại tạm trú trần gian này. Làm sao có thể an nhiên, tự tại, thanh thản, sẳn sàng đón nhận sanh tử vô thường như các bậc giác ngộ ? Dù có chờ hay chẳng đợi, thì con người vẫn phải phụ thuộc theo sự vận hành của đất trời, như một phần tử của bộ máy tạo hóa xoay chuyển và biến hóa mãi không ngừng. Dù vui hay buồn thì Xuân cũng đến và đi . Như tâm sự của Chế Lan Viên khi xuân về:

" Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả là vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…"

Mỗi độ xuân về, có lẽ bài kệ thi "Cáo Tật Thị Chúng " của thiền sư Mãn Giác được nhắc đến nhiều nhất vì cái hay, cái đẹp của tứ thơ và phong thái của một bậc giác ngộ đối diện với Sinh, Trụ, Dị và Diệt của vạn vật và con người .

Cáo Tật Thị Chúng
"Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai."
(Xuân đi, trăm hoa rụng
Xuân đến, trăm hoa khai
Đời thoáng ngang qua mắt
Tóc trên đầu bạc phai
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một nhành mai.)

Xuân đến trăm hoa khoe sắc thắm, xuân đi qua trăm hoa rơi rụng. Xuân đến và đi, với thiền sư, thanh thản, nhẹ nhàng, bình yên và an lạc . Với thời gian, tóc xanh mới đó đã thành bạc thì cũng chẳng có gì vướng bận tâm hồn. Những gì đã qua không nuối tiếc, những gì chưa đến không mong cầu. Bình thản, tự tại và an lạc sống với hiện hữu, trước những cảnh biến đổi của thời tiết thiên nhiên, trước những đổi thay dâu bể của cuộc đời. Nhưng đây là cách ứng xử của một bậc chân tu, đã giác ngộ lẽ sinh tử vô thường của cuộc sống. Còn thế nhân như chúng ta, tâm tư đầy ắp bóng dáng khổ lụy của kiếp người. Lúc được thì vui, lúc mất thì buồn. Khi gần gũi thì hạnh phúc, khi ly biệt thì đau khổ. Được khen thì tươi tắn, bị chê thì ủ rũ. Như ý thì hân hoan, trái ý thì cáu giận...

Tóm lại, chúng ta là phàm nhân, rất khó kềm chế lòng ham muốn của con người nên luôn bị chi phối bởi những cảm giác thương yêu, ghen ghét, lo âu, sợ hãi, buồn sầu, vui vẻ, khổ đau, hạnh phúc... và làm sao không nao núng tâm thần trước những biến đổi lớn lao của cuộc sống. Nhưng đã sinh ra làm kiếp con người, dù có "Trải qua những (một) cuộc biển dâu; Những điều trông thấy mà đau đớn lòng", dù không đủ khả năng giác ngộ mọi việc như một bậc chân tu, dù phải chân ngắn bước dài, lên cao xuống thấp, thăng trầm theo buồn vui nhân thế thì chúng ta cũng phải sống, và sống cho trọn một kiếp trăm năm. Dù vẫn biết bài thi kệ "Cáo tật thị chúng", thiền sư Mãn Giác có ý nhắn dạy thế nhân về qui luật vận hành tất yếu của thiên nhiên và cái vòng tử sinh luân hồi của kiếp người nhưng mùa xuân đã qua mà thiền sư vẫn trông thấy một nhành mai ở sân trước. "Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận; Đình tiền tạc dạ nhất chi mai." Có chăng một cành mai nở muộn lúc xuân tàn? Hay thiền sư đã nhìn thấy sự trường cửu của mùa xuân nơi cành mai tàn có thực trước sân chùa? Theo quy luật thiên nhiên thì cành mai chắc chắn là không có hoa nhưng sư Mãn Giác đã nhận ra thông điệp của mùa xuân kế tiếp, của thế hệ kế tiếp nơi cành mai không hoa ấy mà nói thế để truyền dạy cho thế nhân thông điệp: Mùa Xuân trường cửu trong vạn vật. Ước mong chúng ta có thể nhìn thấy sự trường cửu của mùa Xuân trong mọi việc đã qua, đang xảy ra và sắp đến.

Mùa Xuân là mùa cây lá đâm chồi nẩy lộc, trăm hoa khoe sắc thắm...
Mùa Xuân là mùa của sự sống, là biểu tượng cho sự cát tường của đời sống.
Hoa mai đã đươc tao nhân, mặc khách ưa chuộng bởi cái vẻ đẹp thanh khiết cao quý, hương hoa nhẹ nhàng thanh tịnh. Trời càng lạnh, hoa càng tỏa hương thơm hơn nên hương của hoa mai còn được gọi là "lãnh hương" (hương lạnh). Màu vàng của hoa mai là màu tượng trưng cho sự vinh hiển cao sang, màu tượng trưng và dành riêng cho vua chúa thời xưa. Theo thuyết ngũ hành, thì màu vàng thuộc hành Thổ, nằm ở vị trí Trung Ương của bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Màu vàng cũng là màu biểu tượng cho nòi giống Việt. Cho nên chẳng có gì ngạc nhiên khi dân Việt phuơng Nam chọn mai vàng để đón Xuân, để đón cái Tết Nguyên đán thiêng liêng, cổ truyền của dân tộc.

Nhiều quốc gia trên thế giới có một tập quán rất hay, họ gọi tên quốc gia bằng tên của một loài hoa như: Hòa Lan là xứ sở của hoa tulip, Bungari là đất nước hoa hồng, Nhật Bản là đất nước hoa anh đào, lá phong (maple leaf) là biểu tượng của Canada v.v... Cũng là thảo mộc như bao loài thảo mộc khác nhưng nhưng những hoa, lá đó là biểu tượng của một quốc gia, mang trên mình sứ mệnh của một đất nước, chuyển tải cái hồn của cả một dân tộc. Cũng với định ý này, người Nhật đã vinh danh hoa anh đào là quốc hoa (kuni no hana) của Nhật Bản. ChoViệt Nam, nếu theo tập quán có ý nghĩa, hay và đẹp này thì hoa mai có thừa đủ mọi tiêu chuẩn để trở thành biểu tượng cho đất nước Việt Nam. Mặc dù là vậy, ở Việt Nam, hoa mai vẫn chưa được "vinh danh" xứng đáng với tầm vóc và phẩm chất của một loài hoa cao quý. Có lẽ, mọi người dân Việt nên suy nghĩ "dùm" cho hoa Mai. Có thể nói, đây là suy nghĩ cho cả dân tộc và đất nước VN luôn chứ không phải cho riêng hoa mai. Phần của hoa mai thì chắc cũng đã hài lòng với những tước hiệu như "sứ giả của mùa xuân", " ngự sử", "loài hoa cao quý", "bạn song hành với thi nhân"... mà dân Việt đã dành tặng cho hoa mai qua bao nhiêu thế hệ.

Mỗi độ xuân về, ngoài trời tuyết phủ trắng cảnh vật. Đã bao nhiêu cái Tết chẳng có mùi vị Xuân trôi qua im lặng đến lạnh lùng như khí hậu lạnh lẽo của nơi này. Giao thừa đến không hay, giao thừa đi chẳng biết. Đôi khi có dịp cùng vài người bạn thân cạn vài ly rượu mừng Xuân, cũng thấy ấm áp, khuây khỏa vơi bớt nỗi buồn ngày Xuân xứ lạ đôi chút. Cùng nhau ôn lại quá khứ, nhắc lại những kỷ niệm đã qua. Chợt nhận ra, đã có quá nhiều thay đổi, khác biệt do cuộc sống mang lại . Những giấc mơ đầy nhiệt huyết thuở nào dường như đã bị chôn vùi sâu dưới lớp bụi thời gian. Nhạt nhoà và mất dần dấu tích theo năm tháng trôi qua. Buồn lại kéo về tràn ngập, tát không vơi.

Đón Xuân nơi xứ lạ
Cành mai giả, màu vàng
Ngoài trời tuyết phủ trắng
Những giấc mơ muộn màng
Ngày Xuân đem rao bán
Tiếng tơ lòng ai mua ?
Nỗi lòng người xa xứ
Chờ cơn gió giao mùa .

Thêm một mùa Xuân đang chờ ngoài ngõ, nỗi nhớ quê hương càng thêm da diết. Tự nhủ lòng : Thôi đừng buồn nữa tôi ơi! Quê hương còn đó, bè bạn còn đây. Rồi sẽ có một ngày đất nở hoa, đón xuân về ngắm huỳnh mai nở hoa sân trước.

Cầu nguyện cho mùa Xuân dân tộc và Việt Nam trường cửu trong lòng người dân Việt ly hương.

Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

LÝ LẠC LONG
(Mai/Xuân 2005)
Niềm vui dâng tặng cho đời
Nỗi buồn xin gởi mây trời mang đi.
vdn


>> Blog - >> Mặc Giang (Toàn Thư)
Hình đại diện của thành viên
vietduongnhan
 
Bài viết: 118
Ngày tham gia: Thứ 7 Tháng 1 09, 2010 5:30 am
Đến từ: Paris

:: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi vietduongnhan » Thứ 7 Tháng 1 23, 2010 9:27 am

Sự tích hoa Đào

Hình ảnh

Ngày xưa, ở phiá đông núi Sóc Sơn, Bắc Việt, có một cây hoa đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào xum xuê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỹ dữ hay ma quái nào bén mãng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phớt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sự luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành hoa đào là bỏ chạy xa bay.

Ðến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Luỹ phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng. Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái.

Ðể ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành hoa đào về cắm trong lọ,nhỡ ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.

Từ đó, hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành hoa đào về cắm trong nhà trừ ma quỷ, Lâu dần, người Việt quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này, không còn tin mấy ở ma quỷ thần linh như tổ tiên ngày xưa. Ngày nay, hoa đào hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết, và sắc giấy đỏ hồng điều với câu đối hoà hợp được trang trí mấy ngày Xuân trong không khí vui vẻ, trong sáng.

ST
Niềm vui dâng tặng cho đời
Nỗi buồn xin gởi mây trời mang đi.
vdn


>> Blog - >> Mặc Giang (Toàn Thư)
Hình đại diện của thành viên
vietduongnhan
 
Bài viết: 118
Ngày tham gia: Thứ 7 Tháng 1 09, 2010 5:30 am
Đến từ: Paris

:: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi vietduongnhan » Thứ 7 Tháng 1 23, 2010 9:32 am

Lịch Sử Anh Đào và Lễ Hội Anh Đào tại thủ đô Washington DC

Gần một trăm năm đã qua, kể từ năm 1912, khi 3,020 cây anh đào đầu tiên được chở từ Nhật sang làm quà tặng cho thủ đô Hoa Kỳ, những cây hoa đào đã trải qua bao thăng trầm, khi đựoc yêu quý, lúc bị giòng lịch sử cuốn theo, cùng với thời gian đã lần lượt đựoc thay thế. Dẫu có thế nào, biểu tượng hoa anh đào vẫn rực rỡ là nhịp cầu giao hảo giữa hai quốc gia, tình tương thân tương ái của hai dân tộc và hàng năm khi anh đào vùng thủ đô Hoa Kỳ báo hiệu xuân sang, hàng triệu người từ khắp nơi trong nước và trên thế giới, kể cả người Nhật, vẫn hẹn nhau đến đây chiêm ngưỡng.

Thật ra, ước muốn trồng hoa anh đào tại thủ đô đã có từ rất lâu trước năm 1912. Người đầu tiên là bà Eliza Ruhamah Scidmore. Sau lần đầu tiên viếng thăm Nhật trở về, năm 1885, bà đã bắt đầu khẩn khoản xin chính phủ Hoa Kỳ thực hiện ước mơ của bà. Không ai lưu ý đến điều này. Bà tiếp tục khẩn cầu mỗi năm, suốt 24 năm kế tiếp.

Bà Eliza Ruhamah Scidmore
Hình ảnh

Trong thời gian này, năm 1906, một nhà khoa học làm việc cho Bộ Canh Nông Hoa Kỳ là Dr. David Fairchild, tự ý mua 75 cây anh đào và 25 cây anh đào rũ, hoa cánh đơn, từ một nhà vườn bên Nhật. Ông trồng những cây đào này trên một ngọn đồi của đất riêng ở vùng Chevy Chase để thử nghiệm xem cây có chịu nổi thời thiết mùa đông nơi đất mới. Sự thành công của ông sau đó đã khiến ông mua thêm 300 cây anh đào để tròng ở vùng Chevy Chase, Maryland. Sau đó, mỗi năm đến ngày Arrbor Day, ngày khuyến khích việc trồng cây, ông lại tặng cho mỗi trường học của thủ đô một cây đào để trồng trong trường. Đến năm 1908, ông chính thức lên tiếng ủng hộ việc trồng hoa anh đào của bà Eliza Scidmore tại thủ đô, nhất là gần khu vực đại lộ Independence, địa chỉ của Bộ Canh Nông.

Năm 1909, bà Eliza Scidmore quyết định gây quỹ và tặng các khoản tiền thu được cho việc mua cây anh đào cho thủ đô. Đồng thời, bà viết thư lên Đệ Nhất Phu Nhân Tổng Thống Helen Heron Taft và phác họa chương trình của bà. Rất may, Phu Nhân Tổng thống Taft là người đã từng sống ở nước Nhật và ngưỡng mộ vẻ đẹp của hoa anh đào từ lâu, nên chỉ hai ngày sau, Phu Nhân Tổng Thống Taft phúc đáp thư bà Scidmore với sự hổ trợ hết lòng của bà. May mắn hơn nữa, ngay ngày hôm sau của thư phúc đáp này, một nhà khoa học Nhật là Dr. Jokichi Takamine tình cờ cũng đang viếng thăm thủ đô Washington DC cùng với tùy viên của Lãnh Sự Quán Nhật tại New York là ông Midzuno. Hay biết ước muốn trồng hoa anh đào của những vị phu nhân Hoa Kỳ, nhà tùy viên Midzuno đưa ra đề nghị tặng Hoa Kỳ 2,000 cây. Phu Nhân Tổng Thống Taft nhận lời.

Bốn tháng sau, tháng tám năm 1909, Tòa Đại Sứ Nhật thông báo cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ biết rằng thủ đô Nhật, Tokyo, sẽ tặng thủ đô Washington DC 2,000 cây để trồng dọc theo sông Potomac. Cuối năm đó, cây được xuống tàu sang Hoa Kỳ và tàu đến Seatle.

Không may, Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, khi kiểm soát các cây này theo thủ tục nhập cảnh, đã khám phá ra rằng 2,000 cây anh đào thân hữu đã lậm sâu rầy và bệnh, cần phải bị hủy bỏ. Tổng Thống Taft chính là người đã ban lệnh hủy hết 2,000 cây anh đào này, chỉ trong vòng 9 hôm sau. Thật là tin sét đánh, chuyện tày đình! Tuy nhiên, những người Nhật trong cuộc đã nhanh chóng tiếp nhận tn này với tài ngoại giao xuất chúng. Dr. Takamine và Thị Trưởng Tokyo, ông Yukio Ozaki (và phu nhân), vẫn vui vẻ hứa tặng, và còn tăng lên, lần này 3, 020 cây hoa anh đào mới, chọn lựa cẩn thận, kỹ càng. Dr. Takamine còn hoan hỉ chịu hết phí tổn của 3,020 cây đào này.

Ngày 14 tháng 2 năm 1912, 3,020 cây anh đào, thuộc 12 giống, xuống tàu từ Yokohama, đến Seatle được đưa lên bộ để chuyên chở đến Washington DC, vào ngày 26 tháng 3.

Hôm sau, 27 tháng 3 năm 1912, Phu Nhân Tổng Thống Taft và Phu Nhân Đại Sứ Nhật, Nữ Công Tước Chinda, đã cùng nhau trồng hai cây hoa anh đào đầu tiên ở phía bắc của hồ Tidal Basin, gần đại lộ Independence. Hai cây anh đào này là hai cây anh đào Yoshino. Cuối buổi lễ, Phu Nhân Tổng Thống Taft trao tặng Phu Nhân Đại Sứ Nhật, Nữ Công Tước Chinda một bó hoa hồng tượng trưng vẻ đẹp của Hoa Kỳ. Đến nay, mỗi mùa hoa đào, khi bắt đầu làm lễ hội hoa, kỷ niệm này vẫn được lập lại một cách đơn giản, trong vòng vài nhân vật. Cho đến nay, hai cây anh đào Yoshino nguyên thủy vẫn còn, với hai bảng đồng gắn ở hai gốc cây.

Từ đó cho đến năm 1920, những cây anh đào Yoshino còn lại được tiếp tục trồng quanh hồ Tidal Basin và 11 loại cây anh đào khác được trồng về phía đông của sông Potomac.

Buổi khai mạc mừng ngàn cây anh đào được tổ chức lần đầu tiên bằng cách diễn lại cảnh trồng cây do học sinh các trường trong vùng thủ đô đảm trách, vào ngày 16 tháng 4 năm 1927. Im lặng bảy năm, đến năm 1934, các ủy viên của District of Columbia bảo trợ một buổi lễ kéo dài ba ngày để đón mừng hoa anh đào. Nhưng đó vẫn chưa phải là lễ hội hoa đào. Năm sau,1935, kỳ Lễ Hội Hoa Đào (Cherry Blossom Festival) thật xứng đáng mới được chính thức trở thành kỳ hội lễ hàng năm, bảo trợ bởi nhiều nhóm dân chúng trong vùng.

Mọi người quý hoa đào đến nỗi năm 1938, khi có lệnh bứng bớt cây để san phẳng một vùng đất dọn chỗ cho Đài Tưởng Niệm Jefferson, các bà nhất quyết tranh đấu không chịu. Các bà tự xích người mình vào gốc cây, cương quyết bảo vệ. Cuối cùng, một giải pháp dung hòa được đưa ra, vùng đất đó được san phẳng, nhưng bù lại rất nhiều cây anh đào được trồng thêm dọc theo mé nước, bao bọc phía nam của hồ Tidal Basin.

Đến năm 1940, người ta bắt đầu tổ chức thi hoa hậu hoa đào được một kỳ. Đến tháng 12 năm 1941, có bốn cây anh đào bị chặt. Người ta cho rằng ai đó đã làm điều này để tỏ sự bất bình của người Hoa Kỳ đối với vụ Trân Châu Cảng, mặc dầu bằng cớ không mấy rõ ràng. Để tránh sự căm phẫn trút lên những cây anh đào vô tội, người ta phải gọi trại đi là cây hoa đào đông phương, thay vì hoa đào Nhật Bản. Sau thế chiến, tình hình lắng dịu, người ta lại tổ chức lễ hội. Mỗi tiểu bang chọn một giai nhân làm công chúa, rồi từ những công chúa này, một nữ hoàng hoa đào được chọn cho cả quốc gia.

Lịch sử xoay vần. Năm 1952, Khi những cây anh đào nổi tiếng của Tokyo, những cây anh đào đã gầy giống cho mấy ngàn cây đầu tiên đưa sang tặng Hoa Kỳ, bị hư hoại trong chiến tranh, Nhật đã kêu gọi Hoa Kỳ giúp đỡ để phục hồi rặng anh đào Adachi Ward của thủ đô Tokyo. Hoa Kỳ đáp lời, chiết cây, gầy giống, lại chở sang Tokyo những món quà hữu nghị của mình để đáp lễ.

Ngày 30 tháng 3 năm 1954 đánh dấu một kỷ nguyên mới. Đại sứ Nhật Sadao Iguchi trao tặng Hoa Kỳ một tượng đèn đá tuổi đã 300 năm để kỷ niệm 100 năm ngày ký Hiệp Thương Hòa Bình giữa hai nước tại Yokohama (ký ngày 31 tháng 3 năm 1854). Tượng đèn đá này cao 8 bộ (feet), nặng 20 tấn. Từ đó, khi khai mạc lễ hội hoa đào hàng năm, người ta cũng thắp đèn này lên.

Hình ảnh

Tình hữu nghị giữa hai nứoc được củng cố. năm 1957, chủ tịch công ty ngọc trai Mikimoto, ông Yoshitaka Mikimoto tặng Washington DC một vương miện bằng vàng để dùng trong dịp đăng quang Nữ Hoàng Hoa Đào hằng năm. Vương miện này chạm bằng 2 pounds vàng ròng, kết lên bằng 1,585 viên ngọc trai. Vì sức nặng của nó, các Nữ Hoàng Hoa Đào chỉ đội vương miện này trong khoảnh khắc trong buổi dạ vũ đăng quang và nhận lãnh vương miện phần riêng của mình là một vương miện nhỏ, cũng bằng vàng, gắn ngọc trai ở mỗi cạnh. Nữ Hoàng Hoa Đào sẽ đội vương miện này trong suôt buổi dạ vũ và sau đó vương miện sẽ thuộc về cô hoàn toàn và vĩnh viễn.

Tiến thêm một bước ngoạn mục nữa, Thị Trưởng thành phố Yokohama lại tặng thêm thủ đô Washington DC một tháp chùa đá, cũng gọi là để tượng trưng tình hữu nghị giữa hai quốc gia, bắt đầu qua việc ký Hiệp Thương Hòa Bình 1854 tại Yokohoma. Tháp chùa đá này được đặt trên bờ phía tây của hồ Tidal Basin, gần phía Đài Tưởng Niệm Jefferson.

Hình ảnh

Chưa hêt, năm 1965, chính phủ Nhật Bản lại tặng Phu Nhân Tổng Thống Lyndon Johnson (Lady Bird Johnson) 3,800 cây anh đào Yoshino. Đa số những cây anh đào này được trồng quanh khu vực đài Tưởng Niệm Washington. Lần này, Phu Nhân Tổng Thống Johnson và bà Ryuji Takeuchi, Phu Nhân Đại Sứ Nhật, lại lập lại truyền thống trồng hoa anh đào hữu nghị mà năm xưa Phu Nhân Tổng Thống Taft và Phu Nhân đại Sứ Nhật, Nữ Công Tước Chinda đã trồng lần đầu tiên.

Năm 1982, những nhà thực vật Nhật đựoc phép chiết 800 mẫu cây anh đào Yoshino mới từ rừng hoa anh đào Washington DC để đem về Nhật làm giống và thay thế những cây anh đào Yoshino bên Nhật chẳng may bị thoái hóa do thiên nhiên. Hai nước lại tặng quà qua, trao quà lại một lần nữa. Quả thật, những cây hoa anh đào đã đóng vai trò ngoại giao của mình một cách duyên dáng và hữu hiệu nhất.

Những cây hoa anh đào không tồn tại mãi, có lúc cũng già cỗi đi và cần thay thế. Từ năm 1986 đến năm 1988 đã có tất cả 676 cây mới được trồng lại để thay thế cây cũ. Chi phí trồng những cây này lên đến hơn $100,000, nhưng tất cả đã được quyên góp từ tư nhân để tặng vào quỹ của Sở Công Viên Quốc Gia (National Park Service), sở phụ trách việc trồng cây mới để duy trì con số cây được tặng nguyên thủy.

Lễ Hội Hoa Đào càng ngày càng được tán thưởng. Từ năm 1994, Lễ hội Hoa Đào được chính thức kéo dài đến hai tuần. Đồng thời, tình hữu nghị cũng được củng cố thêm mặn mà hơn nữa. Ngày 27 tháng 3 năm 1996, Hiệp Ước Hữu Nghị kết làm chị em giữa hai giòng sông Potomac của Washington DC và sông Arakawa, phát nguyên từ ngọn núi Nhật Kobushi, được ký kết.

Năm 1997, Vườn Cây Quốc Gia (U.S. National Arboretum), cắt một số lớn các cành chiết từ anh đào Yoshino trồng năm 1912 để trồng riêng ra, với mục đích lưu giữ giống anh đào này cho việc thay thế các cây anh đào Yoshino sẽ già cỗi, tàn tạ về sau.

Vẫn chưa hết, ngày 15 tháng 11 năm 1999, Nhật làm thêm một nghĩa cử ngoại giao đẹp. Nhật chiết 50 mẫu cây từ giống anh đào Usuzumi để tặng cho Hoa Kỳ trồng ở khu vực phía tây của công viên Potomac. Năm mươi cây anh đào mới này được chiết từ một cây anh đào cổ thụ, được người Nhật tuyên xưng là Kho Táng Nước Nhật vào năm 1922. Tương truyền rằng vị hoàng đế thứ 26 của Nhật là Hoàng đế Keitai đã tự tay trồng cây anh đào Usuzumi này tại làng Itasho Neo cách đây khoảng 1,500 năm trước để kỷ niệm ngày đăng quang của mình.

Từ năm 2002 đến 2006, có khoảng 400 cây anh đào chiết từ đợt 1912 nói trên đã đựoc đem ra trồng thay cho các cây già cỗi.

Hoa anh đào đến Hoa Kỳ như những nhà ngoại giao, nay đã biến thành niềm hãnh diện của thủ đô Washington DC và niềm hãnh diện của hai dân tộc. Mỗi độ xuân về, thấp thoáng trong rừng hoa vùng thủ đô Hoa Kỳ, xuân nào cũng có bóng biết bao người Nhật cũng đến đây để cùng chiêm ngưỡng.

Nguồn: National Park Service

***

Hoa anh đào là biểu tượng của nước Nhật. Anh đào đã có từ ngàn năm trước, nhưng lễ hội hoa đào bắt đầu hưng thịnh từ triều đại Heian (794 - 1191) khi triều đình chính thức đặt ra ngày lễ hội hàng năm. Anh đào chỉ nở đẹp khoảng 10 đến 14 ngày, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, gió mưa, khi hoa anh đào nở. Hoa đẹp nhất vào khoảng một tuần sau khi bắt đầu mở cánh. Khi hoa tàn rụng, dưới mặt đất là một thảm hoa vừa trắng vừa ưng ửng hồng. Nước Nhật nhìn được anh đào nở đầu tiên trong năm ở phần cực nam của Okinawa vào tháng giêng. Sau đó những nơi khác anh đào thay phiên nhau hé nụ, và đóa hoa cuối cùng của mùa hoa rụng xuống ở vùng cực bắc của đảo Hokkaido mỗi mùa xuân. Đây chỉ nói riêng về anh đào nở mùa xuân. Nhật còn có anh đào nở vào mùa thu nữa.

Hoa anh đào biểu tượng là hoa anh đào đơn, có năm cánh.

Hình ảnh

Tới nay đã có hơn 300 giống anh đào khác nhau trên đất Nhật, do việc tháp ghép từ hàng trăm năm nay. Tựu chung, có hai loại cây là anh đào và anh đào rũ (weeping flowering cherry). Hoa có loại hoa đơn (năm cánh) và hoa kép (ít nhất là sáu cánh). Phổ thông nhất ở Mỹ là hoa đào đơn trắng Yoshino và hoa đào kép hồng Kwanza.

Anh đào Yoshino
Hình ảnh
Hình ảnh

Đào Yoshino của vùng Washington DC
Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh

Anh đào Kwanzan, đặt tên theo một ngọn núi của Nhật, nở chậm hơn anh đào Yoshino hai tuần, hoa kép, cành vươn lên, không tòe ra hay la đà như anh đào Yoshino.

Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh

Anh đào Accolade
Hình ảnh

Anh đào Akebono
Hình ảnh

Anh đào Akebono
Hình ảnh

Anh đào Akebono
Hình ảnh

Anh đào Akebono
Hình ảnh

Hoa đào Akebono với những hoa đơn màu hồng nhạt, đơm lại thành chùm trên cành, có vẻ đẹp thơ mộng, nhưng mỏng manh. Loại anh đào này đang mất dần sự ưa chuộng của thị trường Hoa Kỳ và các nhà vườn đang tìm cách ương những cây đào này và ghép giống để hoa có màu hồng tươi xem sao.

Anh đào Amanogawa
Hình ảnh

Anh đào Choshu
Hình ảnh

Anh đào Tagasako
Hình ảnh

Anh đào Tagasago
Hình ảnh

Anh đào Taihaku
Hình ảnh

Anh đào Sargent
Hình ảnh

Những rặng anh đào
Hình ảnh

Anh đào rũ

Người phương tây gọi những cây có cành rũ là weeping, nghe thật buồn thảm. Nhưng những cây rũ là vẻ đẹp của phương đông. Một cái hồ nước, bên bờ sông, cảnh vật sẽ trở nên quyến rũ, mơ màng, thơ mộng, khi cạnh đó chỉ cần một cây liễu rũ. Bên cạnh những cây phong rũ (Japanese weeping maple) và hải đường rũ, anh đào rũ cũng có một chỗ đứng xứng đáng trong vườn và nhất là ven hồ. Anh đào rũ có nhiều loại, hoa đơn, hoa kép, từ màu hồng thắm, đến hồng nhạt, đến hoa trắng. Đào rũ màu hồng đậm khi mới nở rồi hồng nhạt dần, cành rũ la đà như đào Higan, có nơi còn gọi là Shidare-zakura. Đào Higan có cây ra hoa đơn, có cây ra hoa kép. Đào rũ mà cành rũ chúc xuống mặt đất thường cho hoa đơn màu trắng thường gọi là Snowfozam (tên Mỹ).

Hình ảnh

Hình ảnh

Anh đào mùa thu

Bàn về anh đào mà không nhắc đến anh đào mùa thu, thế nào đến tháng 10 cũng có người ở những tiểu bang phía bắc bắt đền. Anh đào thu nở vào tháng 10, khi thời tiết bắt đầu chuyển từ ấm sang se lạnh. Anh đào thu nở đẹp, không kém anh đào xuân, nhưng nở lẻ loi bên cạnh những sắc màu của các loài hoa khác, không báo hiệu phút giao mùa sau những tháng đông ảm đạm, không cùng nhau ngự trị cả không gian như Xuân Đào (viết hoa đây nghe, Thiên Thư), nên anh đào thu ít được chú ý.

Hình ảnh

Hình ảnh

* cả 2 bài và hình ảnh posted by Huệ / PNV


ST
Niềm vui dâng tặng cho đời
Nỗi buồn xin gởi mây trời mang đi.
vdn


>> Blog - >> Mặc Giang (Toàn Thư)
Hình đại diện của thành viên
vietduongnhan
 
Bài viết: 118
Ngày tham gia: Thứ 7 Tháng 1 09, 2010 5:30 am
Đến từ: Paris

:: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi vietduongnhan » Thứ 7 Tháng 1 30, 2010 3:42 pm

Hình ảnh

TẾT NÓI CHUYỆN HOA MAI

Hà Xuân Liêm

Mỗi năm cứ vào độ cuối đông, khi Tết sắp về là hoa mai bắt đầu nở. Cái duyên keo sơn giữa mai và Tết như đã được thiên nhiên an bài đâu từ thuở kiếp xa xăm. Nhưng ta phải nói rằng mai là một loại cây đặc biệt của châu Á. Mai đẹp không những ở hoamà còn ở cành cây mà người chơi mai thường gọi là "cái thế". Cành mai có những nét ngoạc rất bất ngờ: đã kỳ cổ lại cương nghị, xương kính; những đờng uống cong dịu dàng; những nét đâm ngang những cành sổ dọc rất mạnh. đang thế đi ra cành mai bỗng ngoạc trở lại một cách đột ngột, bất ngờ làm cho con mắt người thưởng thức phải đổi hướng một cách thích thú; rồi bỗng cành mai lại chĩa vút lên không và giữa một cái ngoạc rất "chướng" đó lại bỗng nở ra một cành hoa vàng rất đột ngột, lại có cành tưởng là chĩa về bên trái thì thình lình ngoạc xuống không báo trước, rồi lại chĩa về bên phải như làn chớp xẹt và trên đó mang cả một chùm hoa mãn khai chen lẫn hàm tiếu và búp hoa chưa trổ. Thực lạ lùng! Thế nhưng chưa hết. Người chơi hoa còn thưởng thức cả những màu nơi cành mai và cả những địa y, cả một số rêu đậc biệt bám vào cành hoa. Phải nói những màu ở cành mai là những màu rất đặc biệt mà chỉ có thiên nhiên mới có thể cấu tạo nỗi. Một vệt màu đen, một đám màu da cam, một khoảng mà trắng xanh phớt nhẹ được phối hợp điều hòa nói lên cái tuổi tác của cành hoa mà người chơi hoa rất ca ngợi "lão mai". Những lộc lá non trên cành hoa cũng đươc người thưởng mai rất để ý. Màu lục non xanh trong như ngọc từ trong những bút hình móng gà tỏa ra. Những chùm lá non này đã trợ màu cho những chùm hoa vàng thêm ý nghĩa.

Người chơi mai thường tỉ mỉ để ý đến những cái búp trên cành mai: búp tròn mới nhú hạt cườm chính là những chùm hoa rực rỡ đang thời ẩn náu; còn những búp dài nhọn như móng chân gà là những lá non chưa đến kỳ xuất hiện. Cho nên khi chọn cành mai chơi Tết, người sành mai rất lưu ý đến hai loại búp này để biết cành mai có hoa nhiều hay ít... Bây giờ, tưởng đã đến lúc nói đến cái hương thơm của cây mai. Hoa mai rất thơm, nhưng rất khó thưởng thức hương mai bởi vì nó là một thứ "ám hưong". Tiết trời càng lạnh, mai càng tỏa hương thơm ngát; nhưng nếu tâm người vọng động vì danh lợi quá thì khó lòng cảm được hưong mai. Trong thơ văn, mai được ca ngợi vô cùng tận. Bởi vì mai là loại hoa rất cao khiết, cương nghị. Mai trổ sớm nhất trong các loại hoa mùa xuân. Khi những lá mai già của năm cũ vừa rụng hết thì tiết trời càng lạnh ngắt. Hoa mai đã chọn cái thời tiết lạnh nhất; không một sắc hoa tươi thắm, không một lá non trợ màu để làm lúc xuất hiện của mình. Chính vì chỗ này mà người quân tử phương đông đã chọn hoa mai để biểu hiện cho chí khí của họ. Trong cuộc nhân sinh, Cao Bá Quát đã từng tuyên bố:

"Thập tái luân giao cầu cố kiếm
Nhất sinh đê thứ bái mai hoa."

Suốt cả cuộc đời nhà thơ chỉ "cúi đầu lạy hoa mai" Thật là khí cốt hạo nhiên! Tại VN ta đã từng lưu hành những bộ đồ trà có cây mai làm đề tài. Nỗi tiếng nhât là bộ chén dĩa trà"Mai hạc" có câu thơ nôm trích trong truyện Kiều của Nguyễn Du:

"Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen."

Cây mai ở bộ chén đĩa trà này vẽ theo kiểu chữ "Nữ". Cây mai uốn cong rất nhiều hoa, một tảng đá và một con chim hạc đứng trên tảng đá. Câu thơ viết theo hai cách: 6/2/6 hoặc 6/8 theo dòng dọc kiểu chữ nho. Chén dĩa màu men xanh ngọc và ký hiệu hãng "Ngoạn Ngọc" chế tạo. Nói cho xác đáng thì cây mai ở bộ chén đĩa "Mai Hạc" không lấy gì làm mỹ thuật lắm, và nó cũng không diễn tả được cái cốt cách cương nghị, xương kính của loài mai. Cũng hình vẻ này nhưng lại có loại chén dĩa có đề câu thơ chữ Hán "Hàn mai xuân tín tảo", tức là cành mai lạnh báo tin xuân về sớm. Loại chén đĩa chữ Hán này không nổi tiếng bằng bộ trên, có lẽ vì câu thơ Nôm quá có giá trị chứ không vì cây mai đẹp. Một bộ chén đĩa trà khác vẽ một cây mai rất đẹp, không có hoa nở chỉ có cành và búp, không có lá. Dưới gốc mai có mấy tảng đá lớn nhỏ khác nhau, có cỏ non và đầy rêu. Một cây cầu nhỏ vắt ngang con suối, một cao sĩ cưỡi lừa qua cầu đi trước, một tiểu đồng vác cành mai theo sau. Bên kia chén đối diện với tranh vẽ có câu thơ: "Độc thán mai hoa sấu" viết thành hai dòng: "Độc thán mai" ở dòng thứ nhất, "Hoa sấu" ở dòng thứ hai, dưới hai chữ này có khuôn dấu vuông thành sáu vị trí đối nhau. Câu thơ này vốn là của Khổng Minh trong Tam Quốc: "Kyï lô quá tiểu Kiều, độc thán mai hoa sấu", có nghĩa là: cưỡi lừa qua cầu nhỏ, để kiếm cành mai gầy. Đề tài này các trà hữu thường gọi là đạp tuyết tầm mai tức là dẫm lên tuyết lạnh để tìm hoa mai. Bộ chén đĩa có nhiều nước men: men màu vỏ trứng gà so do hãng "Nhã Thâm Trân Tàng" chế tạo; và men màu xanh ngã trắng của hãng "Nội Phủ". Cây mai ở bộ chén đĩa này đẹp hơn cây mai ở bộ "Mai Hạc" rât nhiều. Tính chất vừa thanh nhã vừa cao khiết đều có ở cây mai của bộ đồ trà đạp tuyết tầm mai này... Trong hội họa xưa thì mai đứng đầu trong "Tứ hữu": Mai, Lan, Cúc, Trúc. Các nhà Nho thường trang trí bộ tranh "tứ hữu" này ở chỗ mình ngồi. Cây mai trong bộ tranh này vẽ thật nhiều kiểu; tựu trung nét vẽ vẫn chưa diễn tả nỗi những cái chướng rất bất ngờ ở loài mai. "Mai điểu" tức là cành hoa mai và mấy con chim đậu hoặc lượn trên cành mai là một đề tài rât quen thuộc của các bác thợ nề ngày xưa thường đắp bằng mảnh sứ để trang trí ở các nhà thờ họ hoặc ở đình, chùa. Nhưng... hay nhất thì phải nói là cành mai trong văn thơ. Mai vẽ trong nơi chén, đĩa trà, mai vẽ ở tranh tứ hữu hay mai trang trí ở đâu thì đều ít gợi đến trí tưởng tượng của người ta, vì hình ảnh thực có trước mắt đã quy định một phần lớn hình dáng cây mai. Đằng này, văn thơ- nhất là trong thơ- chỉ cần mấy chữ gợi hình là người đọc tha hồ nghĩ tới cây mai hoặc cây mai mình thích. Trong bài Tạp Thi, Vương Duy (701-761) vừa là thi nhân vừa là họa sĩ- đời Đường đã viết:

"Quân tự cố hương lai
Ưng tri cố hương sự
Lai nhật ỷ song tiền
Hàn mai hoa trước vị"

Một người từ cố hương đến thăm, thi nhân không hỏi gì mà chỉ hỏi "Cây mai mùa lạnh nở nhiều hoa chưa?"
Thực cũng đã đáo để! Một nhà thơ Nhật Bản đã vịnh mai qua bốn câu thơ:

"Cửu châu đệ nhất mai
Kim dạ vị quân khai!
Dục thức hoa chân ngụy
Tam canh đạp nguyệt lai"
Ông Hoa Bằng, cách đây 48 năm đã dịch ra thơ Việt:

"Cành mai đệ nhất Cửu Châu
Đêm nay nở mấy bông đầu vì anh
Muốn coi hư thực cho rành
Giẵm trăng tìm đến lối canh ba này".

Thi nhân Việt Nam đã không chịu thua hai nhà thơ ngoại quốc nó trên trong việc ca ngợi và thưởng thức hoa mai. Lê Cảnh Tuân trong bài "Nguyên Nhật" đã viết ;

"Lữ quán khách nhưng tại
Khứ niên xuân phục lại
Quy kỳ hà nhật thị ?
Lão tận cố hương mai"

Thân mình phiêu bồng nơi quán trọ không lo, lại lo cho "cây mai ở quê cũ càng ngày càng già đi". Huyền Quang Tôn Giả một thiền sư danh tiếng đời nhà Trần, đệ tam Tổ phái Trúc Lâm cũng là một thi nhân tài hoa tuyệt đỉnh. Ngài thường có những bài thơ nho nhỏ tuyệt hay và Ngài cũng đã có bài "Mai hoa tác" tức là Vịnh hoa mai:

"Dục hướng thương thương vấn sở tùng?
Lẫm nhiên cô trỉ tuyết sơn trung
Chiết lai bất vị già thanh nhãn
Nguyện tá xuân tư tuý bệnh ông"

Toàn bài không nói đến một chữ mai nào cả nhưng suốt câu thứ hai đã ca ngợi hết sức cái đặc tính của cây mai. Đứng một mình giữa non trơ trọi đầy tuyết trắng. Tuyết thì đương nhiên là lạnh. Nhưng tác giả thì sao? Tác giả đã bẻ một cành mai trong miền tuyết lạnh ấy đem về. Một cành mai không chỉ là một cành mai, mà một cành mai là cả một mùa xuân, có mai là có xuân. Vẫn biết thơ của Huyền Quang Tôn Giả là loại thơ Thiền, "thi trung hữu đạo" nhưng "dĩ lai đạo bản vô ngôn". Đề bài là vịnh hoa mai song không hề nhắc đến mai mà lại ca ngợi cái tính chất đặc biệt của mai qua màu tuyết lạnh mà mùa xuân với cái trơ trọi của nó, không có cây lá nào hỗ trợ. Thực là loại thơ tượng trưng về mai vậy. Đến hình ảnh cây mai trong bài "Loạn Hậu" của Tuyết Giang Phu Tử mới là tuyệt mỹ:

"Tương phùng loạn hậu lão tương thôi
Khiến luyến ly tình tử số bôi
Dạ tĩnh vân am thùy thị bạn ?
Nhất song minh nguyệt chiếu hàn mai".

Cành mai của Vương Duy của nhà thơ Nhật Bản và cả Lê Cảnh Tuân nữa thì vẫn là con người trùm lên cảnh vật, người thụ hưởng thiên nhiên. Giữa con người và thiên nhiên còn có một khoảng cách. Đến cây mai của Huyền Quang Tôn Giả thì con người và thiên nhiên đã có sự hỗ tương tình cảm. Nhưng trong cái "Thiên" "Nhân" tương dữ một cách thân mật, rốt ráo thì phải đợi đến Tuyết Giang Phu Tử. Sau khi loạn lạc Phu Tử ở ẩn tại Bạch Vân Am, ít giao du với đời, cái đời Trịnh Mạc mấy ai lại chẳng biết? Và cuộc đời cũng như tư cách của Phu Tử ai lại chẳng tự hào? Cho nên không lạ gì khi nghe Ngài hỏi: "Dạ tĩnh Vân Am thùy thị bạn?" và Ngài tự trả lời: " Nhất sông Minh nguyệt chiếu hàng mai!" Giữa mai dưới trăng sáng đầy khí lạnh của sương móc và Tuyết Giang Phu Tử đã có một tình cảm bạn bè cố hữu, thân mật. Mai là người và người là mai. Cây mai ở đây là cây mai đẹp cương nghị, cao khiết và trang nhã; cây đẹp của văn chương và triết lý phương Đông ngày trước. Cây mai trọn vẹn cả hương lẫn thế, cả thế thực lẫn thế ảo của bóng cành do cành cây chiếu. Tuyệt hảo! Mỗi độ Tết về, khắp cõi VN ai cũng chơi mai. Nhưng chơi mai thì nhiều mà hiểu mai thì chắc ít. Chơi mai, vì mai của dân Việt chính là mai của Huyền Quang Tôn Giả. Có mai là có xuân. Một cành mai cắm và lọ độc bình - bằng đất chứ không là bằng đồng bở nguyen do là vì kim khắc mộc - để ở chính giữa nhà là đã có môt mùa xuân rực rỡ, môột cái Tết đầy hy vọng đang ngự trị trong gia đình. Người ta chơi mai không phải chơi để thưởng ngoạn, để cho đẹp mà cành hoa mai ngày Tết còn biểu hiện cả cuộc sống gia đình trong năm mới sắp đến. Cành mai có "thế" đẹp cân đối hoa nở đầy đủ tươi có lá non trổ lộc là điềm hay cho gia chủ. Nếu có hoa sáu cánh hay hoa bốn cánh thì càng lại hay hơn. Người Việt đã đưa vũ trụ quan vào nhân sinh quan, một nhân sinh quan biến thành theo Dịch Lý của phương Đông. Một cành mai như thế phải có đủ cả thượng, hạ, tả, hữu. Theo chiều đứng phải biểu hiện được tam tài: thiên, địa, nhân, tức là phải có cái thế cân xứng : có ở dưới, có ở trên và ở giữa. Theo chiều ngang phải có tiền hậu tả hữu, tức là cành hoa phải có "Cái thế" nào đó mà nhìn vào ngã nào cũng có hoa. Đó là nói về cấu tạo cành hoa. Còn về hoa thì có năm loại: một số hoa đã rơi cánh, xếp lá đài; một số rất nhiều đang thời thịnh khai; rồi phải có hoa đang hàm tiếu; hoa búp đang tiến triển và cuối cùng là nụ tròn mới nhú hạt cườm. Lá cần có ba loại: lá non hay đậm màu, bản lá mở rộng; lá non nẩy lộc phần này quan trọng nhất và sau hết là nụ lá hình móng gà...Nói chung sự hài hòa của cành, hoa, nụ, lá phải đến độ gần như tuyệt đối phải có. Cấu tạo cành mai biểu hiện cho không gian, cấu tạo hoa biểu hiện cho thời gian. Dòng đời trôi chảy tiếp tục từ quá khứ sang hiện tại. Quá khứ đã qua không còn quan trọng, hiện tại rực rỡ phấn chấn mới là hay. Phần hoa thịnh khai nở rộ trong ba ngày Tết thêm lá non nẩy lộc tươi mát mới là phần thiết yếu; các búp hoa, lộc lá cứ tiếp tục cái rực rỡ của thời thịnh khai ấy lại là phần trọng yếu nhất bởi nó là nguồn hạnh phúc, làm ăn phát đạt sung túc của gia đình trong năm mới đang lần lần đi tới với gia chủ.

Tuyển Tập Xuân
Thư Viện Hoa Sen
__________
HTMT_MGP
Niềm vui dâng tặng cho đời
Nỗi buồn xin gởi mây trời mang đi.
vdn


>> Blog - >> Mặc Giang (Toàn Thư)
Hình đại diện của thành viên
vietduongnhan
 
Bài viết: 118
Ngày tham gia: Thứ 7 Tháng 1 09, 2010 5:30 am
Đến từ: Paris

Re: :: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi vietduongnhan » Chủ nhật Tháng 1 31, 2010 2:42 pm

Bạch Mai

Hình ảnh

Hình ảnh

St
Niềm vui dâng tặng cho đời
Nỗi buồn xin gởi mây trời mang đi.
vdn


>> Blog - >> Mặc Giang (Toàn Thư)
Hình đại diện của thành viên
vietduongnhan
 
Bài viết: 118
Ngày tham gia: Thứ 7 Tháng 1 09, 2010 5:30 am
Đến từ: Paris

Re: :: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 4 Tháng 6 29, 2011 11:12 pm

Chị ơi,
chị có hoa ti gôn không ?
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 30029
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

Re: :: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi hong mong » Thứ 3 Tháng 8 09, 2011 8:12 am

hoa đẹp quá , thấy mê quá đi ! cảm ơn các bạn nha !
hong mong
 
Bài viết: 1
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 5 26, 2011 1:37 am

Re: :: Hoa Đẹp Muôn Màu ::

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 3 Tháng 8 09, 2011 11:49 pm

Cảm ơn bạn đã viếng thăm
ht


Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 30029
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

Trang trước

Quay về CHÂN DUNG CÁC LOÀI HOA - VƯỜN HOA HINHTRAN

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron