KHOÁNG CHẤT CẦN THIẾT CHO CƠ THỂ CON NGUỜI

bạn cần biết thêm về những y học thường thức , hoặc bạn muốn chia sẻ những kiến thúc của mình , xin mời cùng vào đây chia sẻ nhé bạn

Điều hành viên: tam35

KHOÁNG CHẤT CẦN THIẾT CHO CƠ THỂ CON NGUỜI

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Chủ nhật Tháng 9 12, 2010 11:23 pm

Khoáng Chất


Bác sĩ Nguyễn Thế Thứ, DC., PhD.

Nguồn gốc
Cơ thể con người khi được phân chất bao gồm một hợp chất hóa học hữu cơ, vô cơ và nước. Hợp chất hóa học hữu cơ gồm có chất đạm, chất đường, chất béo. Các chất nầy được kết hợp bởi các phân tử Carbon, Oxygen, Hydrogen và Nitrogen. Nước và chất hữu cơ chiếm 96% sức nặng của cơ thể. Còn 4% là chất hóa học vô cơ. Khi cơ thể con người bị đốt cháy, các chất hữu cơ và nước bị cháy hết biến mất, chỉ còn lại chất hóa học vô cơ đọng lại thành tro. ...


... Các chất vô cơ nầy được gọi là khoáng chất. Phân chất các khoáng chất trong cơ thể sau khi bị đốt cháy thành tro, người ta thấy có khoảng trên 31 phân tử khác nhau được chia làm bốn loại:

- Loại thiết yếu cho cơ thể và có số lượng lớn cần trên 100 milligram mỗi ngày là:

1. Calcium - Ca (Canxi)
2. Phosphorus - P (Phospho)
3. Sodium - Na (Natri)
4. Potassium - K (Kali)
5. Chlorine - Cl (Clo)
6. Magllesium - MG (Mage)
7. Sulfur - S (Lưu huỳnh)

- Loại thiết yếu cho cơ thể nhưng chỉ cần một số lượng nhỏ khoảng vài milligram mỗi ngày như:

1. Iron - Fe (Sắt)
2. Copper - Cu (Đồng)
3. Cobalt - Co (Coban)
4. Zinc - Zn (Kẽm)
5. Manganese - Mn (Mangan)
6. Iodine - I (Iốt)
7. Molybdenum - Mo (Môlípođen)
8. Selenium - Se (Selen)
9. Fluorine - F (Flo)
10. Chromium - Cr (Crôm)

- Loại có thể là cần thiết cho cơ thể và chỉ cần một số lượng rât nhỏ như:

1. Tin - Sn. (Thiếc)
2. Nickel - Ni (Kền)
3. Silicon - Si (Silic)
4. Vanadium - V (Vanađi)

- Loại c6 rất ít không đáng kể có thể bị nhiễm vào cơ thể như:

1. Lead - Pb (Chì)
2. Cadmium - Cd (Cadimi)
3. Mercury - Mg (Thủy ngân)
4. Arsenic - As (Asen)
5. Barium - Ba (Bari)
6. Strontium - Sr (Stronti)
7. Aluminum - Al (Nhôm)
8. Boron - B (Bo)
9. Lithium - Li (Lithi)
10. Beryllium - Be. (Berili)
11. Rubidium - Rb (Rubidi)
12. Silver - Ag (Bạc)
13. Antimony - Sb (Antimon)
14. Gold - Au (Vàng)
15. Bismuth - Bi (Bitmut)
16. Gallium - Ga (Gali)

Các loại khoáng chất kể trên kết hợp trong cơ thể dưới hình thức điện giải. Khoáng chất thuộc kim loại hợp thành dương điện như Calcium (Ca+), Potassium (K+) và Sodium (Na+) là các chất có điện dương. Các chất không phải là kim loại hợp thành âm điện như Chlorine (Cl), Sulfure (S ) và Phosphore (P) là các chất có điện âm.

Công dụng

Khoáng chất giữ vai trò rất quan trọng cho sự sống của sinh vật:

- Kiến tạo cơ thể. Khoáng chất giữ vai trò quan trọng trong sự kiến tạo xương, răng làm cho rắn chắc, điều hòa sự sống của các tế bào, giữ vai trò xúc tác cho các chất điều tố, các chất chuyển mạch thần kinh.

- Điều hòa hoạt động của cơ thể. Khoáng chất duy trì sự quân bình âm dương trong cơ thể, quân bình giữa độ Acid và độ kiềm trong cơ thể để mực độ pH luôn luôn ở gần độ trung tính cho sự sống được điều hòa.

- Quân bình nước trong cơ thể. Trong cơ thể gồm có hai loại dung dịch nước được gọi là nước ở trong tế bào và nước ở ngoài tế bào. Nước ở ngoài tế bào là huyết thanh trong máu, và huyết thanh ở giữa tế bào nầy với tế bào khác. Dung dịch nước trong tế bào có các khoáng chất được tổng hợp lại có tổng số điện thế là âm và nước ở ngoài có các khoáng chất tổng hợp lại có điện thế là dương. Khi máu được chuyển vận đến các tế bào dưới áp suất mạnh, huyết thanh được thấm thấu vào trong tế bào, khoáng chất phối hợp với các chất đạm và chất béo như Phosphoproteins, Phospholipids để điều hòa số lượng nước trong và ngoài tế bào.

- Chuyển mạch thần kinh. Khoáng chất giữ vai trò chính trong sự chuyển mạch thần kinh cho ta cảm giác. Khoáng chất Sodium có nhiều ở ngoài tế bào đo được 142mEq/L trong khi đó trong tế bào chỉ có 10mEq/L và Potassium nhiều ở trong tế bào đo được 141mEq/L, bên ngoài tế bào Potassium chỉ có 5mEq/L khi có một chuyển động nhẹ Sodium thấm thấu vào bên trong tế bào và Potassium thấm thấu ra bên ngoài tế bào làm cho bên trong tế bào trở nên dương điện và bên ngoài tế bào trở thành âm điện tạo thành một phản ứng dây chuyền chuyển mạch thần kinh cho ta cảm giác, và Calcium được biết đóng vai phụ giúp cho Sodium vào trong tế bào được dễ dàng.

Giữ vai trò quan trọng trong các chất điều tố

Nhiều chất điều tố phải cần có khoáng chất mới có thể tác động được và khoáng chất giữ vai trò kích điều tố trợ giúp cho các chất điều tố tác dụng vào các hoạt động của cơ thể.

Ngoài ra còn nhiều công dụng khác như làm đông máu, làm các tế bào máu, giúp cho sự tăng trưởng và có thể tạo ô nhiễm bệnh hoạn cho cơ thể.

Tất cả các khoáng chất được đem vào cơ thể do thực phẩm ăn hằng ngày và

khoáng chất có thể tiêu hủy khi bị nấu chín.

Các khoáng chất cần cho cơ thể được trình bày sau đây: ....

Phần đầu

Bác sĩ Nguyễn Thế Thứ, DC., PhD

Đồng (copper)
Nguồn gốc

Đồng là chất từ thời Trung Cổ đã được dùng để chữa bệnh phong thấp. Đến năm 1900 ông Aberhalden nuôi súc vật bằng sứa nguyên chất nhận thấy chúng phát sinh ra bệnh thiếu kháng chất sắt trong máu. ...



... Năm 1928 ông Hart thuộc trường Đại học Wisconsin Hoa Kỳ thấy rằng bệnh thiếu chất sắt trong máu chỉ được chữa khỏi nếu cho ăn thêm chất đồng trong những thức ăn chỉ nuôi bằng sữa hay gạo. Cho mãi tới năm 1960 các khoa học gia mới chứng nghiệm được đồng là chất cần thiết cho sự dinh dưỡng không những ảnh hưởng ngay tới sức khỏe hiện tại mà còn ảnh hưởng tới di truyền nữa (35).

Trong cơ thể con người có khoảng từ 80mg đến 99,4mg đồng được phân phối như sau: Trong bắp thịt 24,7%, trong da 13,3%, trong tủy xương 14,8%, trong xương 19%, trong gan 8,0 đến 15% và trong não bộ 8,0%. Trẻ em mới sanh có khoảng 15 đến 17mg đồng (36).

Đồng được thẩm thấu vào máu tại bao tử và phần trên của ruột non. Khoảng 90% đồng trong máu phối kết với chất đạm Ceruloplasmin và được chuyển vận vào trong tế bào phần lớn dưới hình thức chuyển thấu và phần nhỏ dưới hình thức chuyển mang theo chất đạm. Các khoáng chất cản trở sự thấm đồng vào máu là Zinc, Molybdemun, Cadmium. Phần lớn đồng được bài tiết theo mật qua đường đại tiện cùng với số lượng đồng không thấm thấu được vào máu. Số nhỏ đồng được bài tiết qua đường tiểu tiện khoảng 30 đến 50Èg mỗi ngày, và theo mồ hôi, tóc và móng tay dài bị cắt. Đời sống bán sinh của đồng trong cơ thể con người đo được 27,1 ngày (37). Số lượng đồng gia tăng trong máu do ảnh hưởng của sự biến năng bị giảm trong những người dùng thuốc Corticosteroid, dùng thuốc ngừa thai, thuốc chống kinh phong, các bệnh về ung thư như Leukemia, Lymphoma, Cystic Fibrosis, bệnh cùi, bệnh lao phổi, các bệnh về ngoài da. Công dụng của đồng trong cơ thể là góp phần trong sự tạo thành các chất điều tố trong cơ thể điển hình như: Ferroxidase I và II giúp Oxýt hóa điện ứng Ferrous (Fe++) ra thành điện ứng Ferric (Fe+++). Tyrosinase giúp cho sự tạo ra chất Melamin là sắc tố mầu của da, nhiều chất Melamin trong da sẽ bị xậm đen. Cytochrome C-oxidase giúp tạo ra năng lượng trong Mitochrondria là lò biến điện của tế bào. Ngoài ra còn trợ giúp sự tạo ra hồng huyết cầu, bạch huyết cầu, góp phần sự tạo xương, biến năng chất Cholesterol, các hoạt động miễn nhiễm, và trợ tim (38).

Thiếu đồng trong cơ thể

Trong cơ thể thiếu chất đồng có thể do không đủ chất đồng trong máu, trung bình khoảng từ 87 đến 153mg/100 phân khối máu cho đàn bà và từ 89 đến 187mg/100 phân khối máu cho đàn ông, hoặc do sinh ra thiếu khả năng biến năng chất đồng. Hiện nay ghi nhận được ba hiện tượng bệnh lý của sự thiếu chất đồng trong trẻ em như sau:

- Thứ nhất là bệnh thiếu máu, một loại bệnh được định nghĩa là thiếu số lượng hay thiếu kích thước của hồng huyết cầu hay thiếu số lượng huyết đạm trong hồng huyết cầu, do trẻ em được nuôi bằng sữa bò.

- Thứ hai là bị ỉa chảy thiếu dinh dưỡng.

- Thứ ba ảnh hưởng di truyền thấy trong hiện tượng Menky tìm thấy vào năm 1962 do di thể truyền giống bị thiếu chất đồng, đứa trẻ bị chậm lớn, kém thông minh, da, tóc, bị mất sắc tố (bạch tạng), tóc thưa, mềm, mạch máu bị dãn, xương không nảy nở bình thường, cơ thể bị nhiệt độ trong người thấp, hay bất tỉnh.

Thừa đồng trong cơ thể

Nếu uống số lượng nhỏ đồng khoảng 10mg vào ruột sẽ sinh choáng váng xây xẩm mặt mày, uống khoảng từ 50mg đồng trong 250mg Copper Sulfat sẽ bị ói mửa. Uống khoảng 10mg đồng các tế bào gan và máu bị tiêu tan đưa đến bệnh vàng da, ruột bị rách chảy máu. Uống từ 3.5g trở lên có thể bị chết (39). Những người bị phỏng được bôi chất Copper Nitrate lên chỗ phỏng có thể bị nhiễm độc đồng vì bị thấm thấu vào máu. Bệnh Wilson là một loại bệnh quá nhiều chất đồng trong gan và trong não bộ đưa đến bệnh viêm gan và các cơ không phối hợp hoạt động được.

Nhu cầu dinh dưỡng

Hiện chưa có ấn định nào rõ ràng cho nhu cầu đồng trong cơ thể. Nhưng nếu mỗi ngày cơ thể hấp thụ khoảng từ 1.3 đến 2mg mỗi ngày được coi là đủ và an toàn.

Thực phẩm có nhiều chất đồng trong gan là sò, Chocolate, rau đậu, trái cây khô, gà.


KẼM (Zinc)
Nguồn gốc

Kẽm là một khoáng chất đã được tìm thấy từ năm 1509, đến năm 1934 ông Todd và các cộng sự viên của ông thử nghiệm thấy kẽm rất cần cho sự sống của chuột và ông ta cho rằng cũng rất cần thiết cho sự dinh dưỡng của con người (40). Đến năm 1961 ông Prasad tường trình một số những người Ba Tư ở thôn dã cơ thể thiếu chất kẽm và thiếu chất sắt đã sinh ra bệnh sưng gan, sưng tì trạng, khổ người thấp lùn, đặc biệt ngọc hành teo nhỏ và thích ăn đất sét. Bản tường trình nầy đã làm cho các nhà dưỡng sinh chú ý đến việc nghiên cứu kẽm ảnh hưởng đến sự sống của con người.

Trong cơ thể người ta có khoảng từ 2 đến 3g chất kẽm và có trong hầu hết các loại tế bào và các cơ phận của cơ thể, nhưng nhiều nhất tại gan, thận, lá lách, xương, trong ngọc hành, trong nhiếp hộ tuyến, trong da, tóc, móng tay. Theo Cơ quan Y Tế Thế Giới (WHO) trong xương có khoảng 200mg/g, trong tinh dịch do nhiếp hộ tuyến tiết ra có khoảng 600 đến 800mg/g (43). Kẽm trong thiên nhiên có khoảng 5 loại đồng-vị có hóa-trị khác nhau. Nhưng kẽm trong cơ thể phần lớn thuộc điện ứng hóa trị hai.

Kẽm được thẩm thấu vào trong cơ thể tại phần trên của ruột non, phần lớn thuộc điện ứng có hóa trị 2 và thường phối hợp với Histidine tạo một hợp chất kẽm Histidine thẩm thấu vào máu. Không giống như chất sắt, chất kẽm trong bao tử và ruột non chịu được độ pH thấp và các khoáng chất khác như sắt, Calcium có thể cản trở sự thẩm thấu của kẽm. Tại tế bào của ruột non, kẽm được thẩm thấu và tập trung thành một khối dự trữ có thể chuyển thấu được hai chiều nghĩa là nếu trong máu quá nhiều kẽm, trong ruột quá ít kẽm, kẽm được chuyển thấu trở lại vào ruột và ngược lại nếu trong ruột nhiều kẽm, trong máu ít kẽm, kẽm được chuyển thấu vào trong máu (44) (45).

Kẽm được thẩm thấu vào máu phần lớn được bài tiết trở lại ruột được tống xuất theo đại tiện và vào khoảng 400 đến 600g kẽm được thận bài tiết qua đường tiểu tiện. Ngoài ra còn bị mất qua mồ hôi, móng tay, tóc, lớp ngoài của tế bào da bị chết tất cả mất khoảng 1mg mỗi ngày. Mỗi lần xuất tinh chứa khoảng 1mg chất kẽm (46). Trong cơ thể sinh vật đời sống bán sinh của kẽm là 365 ngày nhưng nếu mỗi ngày đem vào cơ thể khoảng 100mg thì đời sống bán sinh sụt xuống còn 235 ngày (47).

Công dụng của chất kẽm

Kẽm góp phần biến năng trong cơ thể qua bốn phần rõ rệt:

- Là một thành phần của các điều tố kim loại, chất điều tố kim loại tìm thấy có kẽm đầu tiên là Carbonic Anhydrase vào năm 1940, cho đến nay trên 120 chất điều tố có kẽm đả được xác định (Bảng 6-13, Liệt kê một số loại điều tô kim loại có kẽm).

- Góp phần tạo lập tế bào mới trong hoạt động cấu tạo ra RNA. Thiếu chất kẽm sự thâu nhận chất đạm không điều hòa làm cho tế bào sưng lớn. Trong tế bào bình thường khỏe mạnh nếu thiếu kẽm không thể hấp thụ được chất đạm để phát sinh ra tế bào mới (48).

- Giúp cho các màng tế bào được bình thường—đặc biệt là hồng huyết cầu, bạch huyết cầu và vây huyết cầu.

- Chất điện ứng kẽm trong huyết thanh góp phần trong các hoạt động điều hòa độ pH trong cơ thể.

Thiếu kẽm trong cơ thể

Trong cơ thể thiếu chất kẽm đưa đến chậm lớn, bộ sinh dục bị nhỏ, teo, sinh các bệnh ghẻ lở ngoài da, da đóng vảy, sự miễn nhiễm bị giảm, cơ thể không đủ sức chống lại bệnh tật. Thái độ, cử chỉ mất bình tĩnh, mắt bị quáng gà, ăn không thấy ngon, làm chậm sự lành vết thương và các tế bào nảy nở không bình thường.

Quá nhiều kẽm trong cơ thể

Trẻ em sinh ra bị ảnh hưởng di truyền cơ thể không thấm thấu chất kẽm được sinh ra bệnh Acrodermatitis Enteropathica (A.E.) có đặc tính là da bị nám chung quanh khuỷu tay, đầu gối, mặt, mông (Hình 6-3 và 6-4) bộ tiêu hóa kém, chậm lớn. Bệnh A.E. hoàn toàn do thiếu kẽm, nếu hàng ngày dùng khoảng 100 đến 200% số lượng kẽm được ấn định cho nhu cầu dưỡng sinh trong một thời gian rất lâu có thể khỏi hẳn bệnh nầy.

Nhu cầu dưỡng sinh

Nhu cầu dưỡng sinh cho kẽm tùy theo ảnh hưởng của khu vực sinh sống những thực phẩm có nhiều hay ít kẽm, trung bình khoảng từ 10 đến 15mg mỗi ngày. Thực phẩm có nhiêu chất kẽm như sò, thịt bò, thịt cừu, thận, tim, gan, ngũ cốc (Bảng 6-13). Nước máy uống thường có nhiều chất kẽm. Khoảng 10% số nhu cầu hàng ngày.


Cobalt
Nguồn gốc

Cobalt là khoáng chất đã được ghi nhận là cần thiết cho sự dinh dưỡng từ trên 60 năm nay khi các nhà khoa học Úc Đại Lợi nhận thấy rằng gia súc bò, cừu mắc phải bệnh gầy, ốm, chậm lớn có thể khỏi được khi cho ăn một số lượng hợp chất sắt và người ta cho rằng bệnh gầy ốm chậm lớn là do thiếu chất sắt trong cơ thể súc vật. Nhưng sau khi các ông Filmer và Underwood (49) dùng số lượng sắt nguyên chất tương tự để chữa bệnh gầy ốm chậm lớn thấy không kết quả và ông ta cho rằng trong hợp chất sắt cho gia súc ăn có lẫn lộn một loại khoáng chất nào đó chỉ cần số lượng rất ít có thể chữa được bệnh. Khoáng chất cần thiết nầy được tìm ra là chất Cobalt, chỉ cần cho uống một liều nhỏ từ 0,1 đến 1.0mg là những bò cừu ốm yếu trở thành mập mạp khỏe mạnh như thường.

Cùng với chiều hướng khảo sát ở trên, các nhà khoa họe cho rằng ăn toàn bộ gan cũng chữa được bệnh gầy ốm kể trên đồng thời còn chữa được bệnh Pernicious Anemia của người là loại bệnh mất và sưng hồng huyết cầu, bắp thịt rã rời mệt mỏi, bộ máy tiêu hóa và thần kinh bấn loạn có thể chết. Sau đó lại cho những bò cừu gầy ốm ăn gan đã nướng cháy thành than thấy không có kết quả đã đưa tới kết luận là Cobalt cần thiết cho một yếu tố nào đó để có thể chữa được bệnh nầy. Phải mất 11 năm sau người ta mới tìm ra được cái yếu tố cần thiết đó là Cobalt chứa đựng Vitamin B12, Ba năm sau đó ông Smith và các cộng sự viên của ông chích Vitamin B12 vào cừu bị bệnh có triệu chứng thiếu Cobalt là yếu tố cần thiết để cơ thể biến chế ra Vitamin B12 thiếu Cobalt đưa đến thiếu Vitamin B12. Vì vậy Cobalt được nhìn nhận là khoáng chất cần thiết cho cơ thể con người và súc vật.

Sự thiếu Cobalt vào máu và sự bài tiết Cobalt ra ngoài hiện chưa được rõ nhưng cũng giống như các khoáng chất khác phần lớn bài tiết qua đường tiểu tiện và phần nhỏ qua mồ hôi, tóc. Trong cơ thể có khoảng 1.1mg Cobalt phần lớn được chứa trong gan, thận, tì tạng, lá lách. Trong máu có khoảng 1Èg/100mL máu.

Quá nhiều Cobalt khoảng 20mg đến 30mg mỗi ngày đưa đến bệnh Polycythemia là loại bệnh có quá nhiều hồng huyết cầu, bệnh sưng hạch tuyến giáp trạng, bệnh đau tim (51) (52).

Hiện chưa có ấn định nào cho nhu cầu dưỡng sinh của Cobalts. Nhưng theo sự nghiên cứu của ông Engel thì vào khoảng 15Èg Cobalt cần thiết cho cơ thể mỗi ngày (53).

Thực phẩm có nhiều Cobalt là sò, gan, thận. Đặc biệt trong trái cây và rau đậu không có Cobalt, những người ăn chay trường sẽ bị bệnh thiếu Cobalt, nhưng phải mất từ 3 đến 6 năm triệu chứng của bệnh mới phát hiện.


Manganese
Nguồn gốc

Manganese được phiên âm ra tiếng Việt đọc là Mangan là một khoáng chất được ghi nhận vào năm 1981 là cần thiết cho sự dinh dưỡng súc vật. Mangan giúp cho chuột mau lớn, và sinh sản nhiều. Nhưng đối với con người bi nhiễm độc Mangan được ghi nhận vào năm 1937 (55) (56) gồm 150 người thợ mỏ. Mangan tại Ma-rốc sinh ra những triệu chứng tê liệt cứng chân, run tay, mặt méo, giọng nói khàn khàn (Hình 6-2). Cho mãi tới năm 1972 bản tường trình đầu tiên về sự thiếu Magan trong cơ thể con người mới được công bố (54) và được coi là thiết yếu cho sự dinh dưỡng.

Mangan được thấm vào cơ thể qua ruột vào mật dưới trạng thái mangan hóa trị hai (Mn+2) và vào gan thành ra mangan hóa trị ba (Mn+3) kết phối với chuyển sắt (Transferrin) để đi vào các tế bào, sự thấm thấu vào cơ thể rất ít khoảng 3% số lượng ăn vào. Mangan được mật bài tiết vào ruột ra ngoài đường tiểu tiện (57).

Hiện nay những triệu chứng phát hiện trong cơ thể con người bị thiếu mangan được ghi nhận là bị xuống cân, da bị lở, thỉnh thoảng bị ói mửa, buồn nôn, đầu tóc bị đổi mầu và chậm mọc (58).

Đối với súc vật bị thiếu mangan xương bị ngắn và dầy, xương ống bị cong, xương sọ bi méo, không bình thường, lớp sụn bị nở lớn đẩy khớp xương bị lệch (59). Khi súc vật mang thai bị thiếu Mangan đẻ con sẽ bị bệnh không phối hợp được các động tác, thiếu thăng bằng cơ thể, đầu bị rút lệch một bên, tình trạng nầy sinh ra vì bị một bên màng nhĩ trong tai bị hóa cốt và còn bị biến đối di thể truyền mầu trong chuột làm cho da bị lợt mất mầu, làm cho lá lách bị teo ảnh hưởng đến sự biến năng chất đường và chất béo, ảnh hưởng đến não bộ sinh ra bệnh bấn loạn thần kinh tay chân co rúm, đi bò chậm chạp. Tình trạng nầy có thể biến đổi được nếu súc vật có thai cho uống nhiều Mangan (60). Tóm lại ảnh hưởng di truyền của súc vật mẹ thiếu chất Mangan trong lúc mang thai đẻ con ra sẽ bị ảnh hưởng tới bộ xương nẩy nở không đều và thần kinh bị bệnh không phối hợp cử động điêu hòa. Nhu cầu dưỡng sinh hằng ngày cho người lớn là 2,5 đến 5,0mg và trẻ em từ 6 đến 10 tuổi là 1,25mg (13). Thực phẩm có nhiều Mangan là ngũ cốc, trái cây, rau, đậu, trà. Có rất ít trong thịt cá (Bảng 6-13).

I-ốt (lodine)
Nguồn gốc và công dụng

I-ốt được phân chất ra từ rong biển vào khoảng năm 1813 và người Trung Hoa đã dùng rong biển để chữa bệnh Goiter một loại bệnh sưng hạch tuyến giáp trạng ở cổ từ nhiều thế kỷ trước. Đến năm 1816 lần đầu tiên I-ốt được dùng chữa bệnh Goiter. Năm 1895, ông Baumann đã phân chất được các chất trong hạch tuyến giáp trạng trong đó I-ốt là một thành phần căn bản. Năm 1917 bệnh dịch sưng cổ ở Ohio đã được chặn đứng và chữa khỏi khi dùng một số lượng nhỏ I-ốt để chữa bệnh. Năm 1928, ông Chesney nhận thấy rằng thỏ bị bệnh sưng hạch tuyến giáp trạng ở cổ được chữa lành khi cho ăn bắp cải và ông ta cho rằng I-ốt có cả trong bắp cải. Từ đó người ta đã nhận thấy và tìm ra I-ốt có trong nhiều các thực phẩm khác nhưng số lượng có nhiều nhất là các thực phẩm ở dưới biển, có lẽ mưa, gió đã soi mòn các phần đất mầu mỡ ở trên mặt đất nhất là những đỉnh núi cao chảy xuống biển, do đó những vùng đất đồi núi cao không có hoặc có rất ít chất I-ốt.

Trong cơ thể con người có khoảng từ 20 đến 80mg I-ốt, 60% trong số đó ở trong hạch tuyến giáp trạng, số còn lại được phân phối trong tất cả các bộ phận của cơ thể đặc biệt trong máu và bắp thịt.

Khi I-ốt được ăn vào trong bao tử đã sẵn sàng tác hợp với chất khác trở thành điện ứng I-ốt âm (I-) được thấm thấu vào máu tại bao tử và phần trên của ruột non. Trong máu I-ốt được đưa ngay tới hạch tuyến giáp trạng ở cổ và thận để bài tiết qua đường tiểu tiện.

Trong cơ thể I-ốt không giữ vai trò nào khác trong các tế bào của cơ thể ngoại trừ trong hạch tuyến giáp trạng. Hạch giáp trạng ở cổ họng gồm có hai lá hạch, mỗi lá ở mỗi bên cuống phổi nằm ngay phía dưới và ở đằng trước cuống họng, được nối liền với nhau và nặng khoảng 30gam (Hình 6-1). Đằng sau mỗi lá hạch có hai hạch nhỏ được gọi là phó giáp trạng. Trong hạch giáp trạng có rất nhiều những tuyến hạch nhỏ li ty khoảng từ 150 đến 300 micron đường kính, chung quanh bao bọc bởi những tế bào hình cầu, bên trong chứa một chất nhờn, gồm phần lớn là chất đạm được gọi là Thyroglobulin là chất làm ra chất điều tố tuyến giáp trạng (Hình 6-5).

I-ốt trong máu được đưa ngay tới hạch Thyroid thấm thấu vào trong tuyến hạch li ti. Mỗi tuyến hạch li ti nầy có thể chứa một số lượng I-ốt khoảng từ 25 đến 350 lần cường độ I-ốt trong máu. Sự tập trung nhiều hay ít cường độ I-ốt trong tuyến hạch li ti nầy tùy theo số lượng điều tố tuyến giáp trạng cần thiết được tiết ra và chỉ huy sự điều hòa thấm thấu nầy do hạch não thùy ở não bộ tiết ra một chất kích thích hạch tuyến giáp trạng tiết ra chất điều tố giáp trạng được gọi là kích thích điều tố giáp trạng. Khi vào trong tuyến hạch li ti, trước hết một tinh thể I-ốt tác hợp với một Amino Acid Tyrosin được gọi là Monoiodotyrosine (viết tắt MIT) sau đó thêm một tinh thể I-ốt tác hợp với MIT thành ra Diiodotyrosine (viết tắt DIT) rồi một MIT tác hợp với một DIT được gọi là Triodothyrosine hoặc hai DIT tác hợp với nhau được gọi là T4 hay Thyroxine. Thyroxine được tồn trữ trong tuyến hạnh đủ dùng để cung cấp cho nhu cầu của cơ thể trong ba tháng và 90% chất điều tố giáp trạng được tiết ra là Thyroxine (T4), 10% là Triidothyrosine (T3) (61). Vai trò của Thyroxine hay điều tố Thyroid rất quan trọng cho cơ thể như sau: (63)

- Ảnh hưởng đến nhu cầu căn bản năng lượng của cơ thể, khi số lượng điều tố giáp trạng tiết ra nhiều hơn bình thường nhu cầu căn bản năng lượng của cơ thể có thể gia tăng tới +40 đến +100%, điều nầy giải thích trường hợp những người ăn nhiều mà không thấy mập, vì số năng lượng do thực phẩm đem vào cơ thể không đủ để cung cấp cho nhu cầu căn bản năng lượng cho sự sống của cơ thể. Trong trường hợp ngược lại, điều tố giáp trạng không tiết ra đủ nhu cầu căn bản năng lượng của cơ thể giảm từ 30 đến 45% những người bị trường hợp nầy thường than phiền ăn rất ít mà vẫn bị mập.

- Ảnh hưởng đến trọng lượng của cơ thể, gia tăng sự sản xuất điều tố giáp trạng luôn luôn đưa tới sự sụt cân, ngược lại giảm sự tiết ra chất điều tố giáp trạng đưa đến sự lên cân.

- Ảnh hưởng tới sự tăng trưởng: Trẻ em đang tuổi lớn mà bị giảm số lượng điều tố giáp trạng đưa tới tình trạng chậm lớn, nếu tiết ra quá nhiều điều tố giáp trạng trẻ em thường cao và gầy hơn bình thường vì điều tố giáp trạng ảnh hưởng đến sự tạo lập các chất đạm ra thành các tế bào trong cơ thể.

- Ảnh hưởng tới các hoạt động của các cơ phận trong cơ thể như gia tăng điều tố giáp trạng đưa tới tim đập mạnh, máu chảy nhanh, nhiệt độ cơ thể tăng, phổi thở nhiều, cảm ứng về thần kinh nhậy cảm nhanh, bắp thịt hoạt động nhanh nhẹn và ngược lại nếu giảm sự tiết chất điều tố giáp trạng cơ thể uể oải, ngủ nhiều, biếng nhác.

Trong cơ thể nếu bị thiếu chất I-ốt đưa đến bệnh sưng hạch tuyến giáp trạng làm sưng cổ họng, có biếu ở cổ gọi là bệnh Goiter. (Hình 6-7, 8). Sự thiếu I-ốt có thể do ăn không đủ chất I-ốt, hoặc do cơ thể không chuyển vận I-ốt được vào trong tế bào của giáp trạng hoặc không phối kết được với Tyrosin để làm ra chất Thyrosin. Sự ăn uống thiếu chất I-ốt thường xảy ra cho các sắc dân sống ở miền núi và thường đàn bà con gái bị nhiều hơn là đàn ông con trai. Khi không đủ I-ốt, hạch tuyến giáp trạng tiết ra ít điêu tố giáp trạng cơ thể không đủ, hệ thống hồi chỉnh báo lên hạch não thùy ở não bộ tiết ra nhiều kích thích điều tố giáp trạng làm cho tế bào giáp trạng phải cố gắng sản xuất nhiều, các tế bào của giáp trạng gia tăng cả về số lượng tế bào đến vóc dáng của tế bào, làm toàn bộ hạch tuyên giáp trạng nở lớn. Trường hợp trẻ sơ sinh bị thiếu I-ốt sinh bệnh Cretinism triệu chứng chậm lớn, mặt to ngang, bụng ỏng, da dầy khô, môi trề, lưỡi dày, triệu chứng nầy phát hiện sau khi sanh độ 3, 4 tháng nếu chữa trị sớm có thể trở lại bình thường được (62).

Bệnh điếc và câm có thể do thiếu I-ốt vì theo những thí nghiệm cho thấy sự phát triển tùy thuộc ở điều tố giáp trạng (64).

Bệnh tâm trí cũng do ảnh hưởng thiếu I-ốt nhiều thí nghiệm cho những bà mẹ có mang được nuôi dưỡng đầy đủ chất I-ốt và những bà mẹ được nuôi dưỡng không có chất I-ốt, kết quả số trẻ sơ sinh không được nuôi đủ chất I-ốt trong thời kỳ bào thai sinh ra chậm lớn, mất trí (65).

Để ngăn ngừa sự thiếu I-ốt một loại muối bán ở thị trường Mỹ có pha 0,01% Iodine trong muối và các nước khác tùy theo khu vực thiếu nhiều hay ít I-ốt thường pha từ 0,002 đến 0,005%. Ngoài ra còn pha trộn I-ốt trong dầu ăn và trong bánh mì hoặc trong nước uống tại các trường học. Quá nhiều I-ốt trong thực phẩm được ăn vào trong cơ thể được coi như không có hại vì trong cơ thể có một hệ thống tự động ngăn không thấm thấu I-ốt vào tuyến hạch giáp trạng nếu cường độ của I-ốt trong máu cao hơn 15 đến 25mg/mL được gọi là hiệu ứng Wolff-chaikoff, sự ngưng I-ốt nầy chỉ tạm thời khoảng 24 tiếng cho tới khi hạch tuyến tiếp tục tiết ra điều tố giáp trạng. Đồng thời I-ốt được bài tiết ra rất nhiều qua đường tiểu tiện.

Nhu cầu dưỡng sinh

Để ngăn ngừa bệnh Goiter cho người lớn, hàng ngày cần phải dùng từ 50 đến 75Èg I-ốt. Và cho an toàn hơn, thanh niên từ 19 đến 22 tuổi cần tới 140Èg, từ 23 đến 50 tuổi cần 130Èg. Đàn bà từ 19 đến 50 tuổi là 100Èg (Bảng 6-14).

Những đồ ăn có nhiều I-ốt là rong biển, đồ biển, cá biển. Cá biển nhiều hơn cá sông ngòi. Rau trái có rất ít I-ốt (Bảng 6-15).

Mô-líp-đen (Molybdenum)
Mô-líp-đen là một khoáng chất được nhìn nhận là cần thiết cho sự dinh dưỡng bắt đầu vào năm 1953 khi các nhà khoa học phân chất chất điều tố Xanthine, chất điều tố nầy giúp cho biến đổi Xanthine ra thành Uric acid đào thải ra nước tiểu thành urê. Phân chất điều tố Xanthine có khoáng chất Môlipđen vì vậy được coi là cần thiết cho sự dinh dưỡng (68).

Mô-lip-đen có trong thực phẩm khi được đem vào cơ thể được thẩm thấu vào máu khoảng từ 25% đến 80% số lượng tại bao tử và phần trên của ruột non. Không có sự thẩm thấu nào tại ruột già cả. Số lượng thẩm thấu vào máu được bài tiết nhanh chóng qua đường tiểu tiện (66).

Mô-lip-đen giữ vai trò quan trọng trong chất điều tố Xanthine, là một kim từ xúc tác biến đổi gốc Purine trong Nucleotides ra thành Uric acid.

Thiếu Mô-lip-đen trong cơ thể con người đã được trình bày trong hai bản phúc trình (67), một nêu lên tình trạng trẻ sơ sinh bị chết vì thiếu Mô-lip-đen đưa tới thiếu chất điều tố sulfite khiến cho sự biến đổi Amino Acid Cystine không thành hình, cơ thể tồn trữ quá nhiều Cystine đưa đến hư thận, gia tăng độ acid trong cơ thể đưa tới bất tỉnh.

Một tường trình khác bệnh nhân được nuôi bằng thực phẩm chính thẳng vào máu, nhiều Sulfate trong máu đưa tới thần kinh bấn loạn sinh bất tỉnh. Cho bệnh nhân uống Mô-lip-đen triệu chứng kể trên biến mất hẳn.

Quá nhiều Mô-lip-đen trong cơ thể được coi như không nguy hại nhưng nếu uống quá nhiều trong nhiều ngày liên tục triệu chứng nhiễm độc tương tự như nhiễm độc đồng và có thể mức độ Uric acid trong máu quá cao đưa tới dễ bị mắc bệnh viêm gan.

Nhu cầu dưỡng sinh của Mô-lip-đen được coi như dễ dàng hấp thụ được trong thực phẩm và nước uống hằng ngày khoảng từ 0,15 đến 0,5mg mỗi ngày (13).

Thực phàm có nhiều Mô-lip-đen là sữa, cây trái khô, gan, thận và ngũ cốc, các loại thịt cá trái cây có rất ít.

Sêlen (Selenium)
Vào năm 1930, các nhà chăn nuôi gia súc đã chú ý đến một loại bệnh làm cho độ kiềm trong máu của gia súc tăng cao đưa đến các triệu chứng như ủ rũ, cứng chân, rụng lông, mù mắt rồi chết. Nguyên do của bệnh nầy là do cơ thể súc vật có quá nhiều Sêlen (69) vì được nuôi bằng thực phẩm được trồng tại những vùng đất có quá nhiều Sêlen cho nên gia súc ăn vào bị nhiễm độc. Cho đến năm 1957 trở về sau (70) nhiều bản tường trình về sự thiếu Sêlen trong cơ thể động vật đã sinh ra nhiều chứng bệnh như nếu cho chuột ăn thêm Sêlen sẽ chữa được bệnh hoại mô trong gan của chuột bị thiếu cả Sêlen lẫn Vitamin E. Chữa được bệnh sưng có nước hoặc mủ trong bắp thịt của gà, bệnh hoại mô trong gan của heo, bệnh trắng thịt của cừu. Tất cả các chứng bệnh kể trên đều do các thực phẩm được nuôi gia súc trồng tại những vùng đất thiếu Sêlen. Tình trạng thiếu Sêlen trong thực phẩm nuôi gia súc đã làm cho nhiều nhà chăn nuôi khánh tận vì gia súc chết quá nhiều. Vào năm 1973 chính phủ Hoa Kỳ đã cho phép các nhà sản xuất thực phẩm gia súc được trộn thêm Sêlen vào trong thực phẩm như trộn 0,2 phần triệu Sêlen cho gà và heo, 0,2 phần triệu cho gà tây.

Đối với con người, thỉnh thoảng cũng có những tường trình về sự nhiễm độc của Sêlen, nhưng đều do nhiễm độc tại kỹ nghệ, không thấy bản báo cáo nào nói về sự nhiễm độc do dinh dưỡng. Sêlen trong cơ thể con người tùy theo khu vực sinh sống như tại Tân Tây Lan có từ 3 đến 6mg, tại Bắc Mỹ lên tới 15mg, nơi tập trung nhiều Sêlen nhất trong cơ thể là thận, gan, nơi ít nhất là ở phổi và óc. Sêlen được thẩm thấu vào cơ thể tại ruột non lên tới 80% và vào khoảng 60% được bài tiết ra ngoài qua đường tiểu tiện.

Sêlen được chấp nhận là nhu cầu thiết yếu cho dinh dưỡng dựa trên hai bản báo cáo, một tại Tân Tây Lan bệnh nhân báo cáo cho biết bắp thịt ở hai bên đùi bị đau nhức khó chịu, bệnh nhân được hằng ngày cho ăn trong đồ ăn có thêm 100Èg Sêlen, triệu chứng trên biến mất trong một tuần lễ. Trường hợp khác là tại Trung Hoa một loại dịch được gọi là bệnh Keshan lan truyền trong trẻ em chạy dọc từ Đông Bắc xuống Tây Nam nước Tầu, bệnh nhân bị mắc bệnh tim yếu và lớn tim do trong đồ ăn có rất ít Sêlen và trong máu có rất ít Sêlen (71).

Vai trò của Sêlen trong cơ thể là góp phần trong điều tố Glutathione Peroxidase có tác dụng làm tan các chất béo và đồng thời chống lại sự nhiễm độc thủy ngân, Cadmium, và bạc. Thực phẩm có nhiều Sêlen tùy theo từng khu vực canh tác nếu trong đất trồng trọt có nhiều Sêlen hay ít. Đồ biển, thận, gan, thịt là có nhiều Sêlen, các loại rau cỏ, ngủ cốc còn tùy thuộc ở khu vực trồng tỉa có nhiều hay ít Sêlen.

Nhu cầu dưỡng sinh được ấn định cho người lớn khoảng từ 50 đến 200mg. Được coi là tạm đủ khi mỗi ngày ăn vào khoảng 30mg và tối đa là 200mg thì không sợ bị thiếu hay nhiễm độc (72).

Flo (Fluorine)
Trước năm 1972 Flo được coi như là khoáng chất cần thiết để bảo vệ men răng, giữ cho răng khỏi bị sâu. Cuộc nghiên cứu bắt đầu từ năm 1980 khi một số làng, xã ở Hoa Kỳ dân chúng bị răng có những đốm, vẩy trắng nhiều khi toàn thể răng bị trắng như phấn viết mất hẳn men trong bóng của răng, rồi dần dần biến thành vàng và bể từng miếng (Hình 6-9). Người ta tìm ra nguyên nhân trong nước có quá nhiều chất Flo, chứa tới 14 phần triệu của nước. Nhiều cuộc nghiên cứu bắt đầu, vào năm 1945 một cuộc thử nghiệm rộng rãi tại hai xã thuộc thành phố Nữu Ước, một xã được cho dân chúng uống nước máy có pha một phần triệu của nước có chất Flo và một xã không có chất Flo trong nước. Kết quả thử nghiệm trong 10 năm, trẻ em tại xã có pha Flo răng trắng bóng so với xã không có Flo trong nước răng vàng, bể, hư, tới 58% dân số. Sau cuộc tường trình kết quả thí nghiệm 3.200 xã tại Hoa Kỳ tình nguyện pha một phần triệu Flo vào nước. Sau đó chính phủ Hoa Kỳ quyết định áp dụng cho toàn nước Mỹ, kế tiếp là các nước trên thế giới dần dần theo sau kể cả Anh quốc và Nga Sô (74). Ở một số vùng núi cao không có nước máy cung cấp người ta phải dùng muối có pha Flo hoặc dùng kem đánh răng có pha Flo (75).

Sau năm 1972 các cuộc khảo nghiệm về Flo còn cho thấy cần thiết cho xương những người già (76). Ngoài ra còn có thể giúp cho vết thương mau lành, ngăn ngừa bệnh thiếu máu, gia tăng sự thấm thấu chất sắt vào máu.

Flo được đem vào cơ thể thẩm thấu rất nhanh tại bao tử vào máu được đưa ngay vào tế bào khoảng 50% hoặc bài tiết ngay bằng đường tiểu tiện 50% còn lại khoảng 75% số lượng ăn vào được thẩm thấu ngay vào máu trong giờ đầu tiên. Flo trong nước uống được thấm thấu hầu hết, trong khi đó Flo trong thực phẩm chỉ thẩm thấu khoảng từ 50 đến 80% (77).

Quá nhiêu Flo trong cơ thể sẽ làm cho hư răng và sinh bệnh chết xương Osteoslerosis nếu dùng hằng ngày với số lượng hai phần triệu trở lên. Nhiễm độc có thể chết nếu dùng số lượng từ 2g trở lên ngay một lúc.

Thực phẩm có nhiều Flo là thịt, cá, có khoảng từ 5 đến 15 phần triệu, trong khi trà lên tới 75 đến 100 phần triệu (Bảng 6-16, thực phẩm có nhiều Flo)

Hằng ngày ăn vào khoảng 1,2mg cho khu vực nước máy được pha thêm 1 phần triệu Flo trong nước, và khu vực không được pha Flo vào nước phải sử dụng lên tới 8 đến 5mg mỗi ngày.

Crôm (Chromium)
Vào cuối thập niên 1950, giáo sư Schwarz và Mertz thử nghiệm vào chuột cho ăn thiếu chất crôm nhận thấy rằng chuột phát sinh triệu chứng của bệnh tim và bệnh tiểu đường Diabetes Mellitus do thử máu Glucose Tolerance, một loại thử nghiệm bệnh tiểu đường thấy kết quả có bệnh. Crôm giữ vai trò quan trọng trong sự biến năng của chất đường, chất béo và Nucleic acid trong cơ thể. Vai trò của Crôm đối với chất đường và chất béo như là chất điều tố Insulin, còn đối với Nucleic acid là duy trì cơ cấu và các hoạt động của di thể (78) vì vậy được coi là thiết yếu cho nhu cầu dinh dưỡng.

Cơ thể thiếu Crôm ngoài triệu chứng của bệnh tiểu đường còn đưa tới chậm lớn, giảm tuổi thọ, gia tăng số lượng mỡ và Cholesterol trong máu đưa đến cứng động mạch, các bệnh về thần kinh (79).

Quá nhiều Crôm trong cơ thể đưa tới sự nhiễm độc sinh ra các chứng bệnh về phổi, ung thư phổi và các chứng bệnh về da. Sự nhiễm độc nầy chỉ được báo cáo do các công nhân là các hãng xưởng sản xuất Crôm (80). Chưa có một tường trình nào về sự ăn quá nhiều Crôm trong thực phẩm.

Crôm được thẩm thấu vào máu một phần rất nhỏ, và số lượng trong máu khoảng từ 4 đến 18mg trên 1 lít, phần lớn được chuyển vận chung với chất chuyển sắt.

Nhu cầu dưỡng sinh cho Crôm được ấn định vào năm 1980 là từ 50 đến 200mg mỗi ngày cho người lớn, từ 10 đến 120mg mỗi ngày cho trẻ em. Mỗi ngày Crôm được bài tiết qua đường tiểu tiện là từ 7 đến 10mg (81).

Thực phẩm có nhiều Crôm được ghi trong bảng 6-13 nhiều nhất là trong men rượu, đậu khô, thịt và ngũ cốc. Nếu những thực phẩm như đường, gạo, bột được biến chế mất khoảng từ 87 đến 95 phần trăm số Crôm trong thực phẩm (82)

Các khoáng chất có thể thiết yếu cho cơ thể:
Kền (Nickel)

Kền được tìm thấy đầu tiên trong thảo mộc và động vật vào năm 1925, đến năm 1936 được coi như là yếu tố cần thiết cho cơ thể, nhưng mãi tới năm 1970, 1975 mới có nhiều chứng cớ về vai trò cần thiết của kền trong cơ thể (83).

Kền được thẩm thấu vào cơ thể rất ít khoảng độ 10% số còn lại bài tiết qua đường đại tiện. Sự thẩm thấu vào máu tại phần trên của ruột non theo đường chuyển vận của Iron (sắt) và phần lớn theo hình thức chuyển mang hơn là chuyển tháu vào máu. Trong máu, kền được chất bạch đạm chuyển mang vào tế bào giữ vai trò phụ điều tố hay là giữ một phần cơ cấu của kền từ điều tố trong cơ thể như điều tố Urease biến đổi chất urea ra thán khí CO2 và A-mô-nhắc. Điều tố Hydrogenases biến đổi dưỡng khí ra thành hơi Methane (CH4) hay là nước (H2O). Trong máu kền được bài tiết qua đường tiểu tiện và mật.

Dấu hiệu thiếu chất kền trong cơ thể động vật được ghi nhận trong gà, bò, dê, cừu, heo và chuột là chậm lớn và giảm sự sản xuất hồng huyết cầu và giảm sự thấm thấu chất sắt.

Sự nhiễm độc chất kền trong thực phẩm hầu như không có. Tổng quát đem vào cơ thể trên 250Èg kền có thể nhiễm độc.

Hiện nay kền được coi là cần thiết cho động vật vì vậy cũng được coi như là cần thiết cho loài người và nhu cầu dưỡng sinh hàng ngày cho con người là 35Èg, trong một tường trình khác con người cần ăn vào hàng ngày từ 170 đến 700Èg mỗi ngày.

Thực phẩm có nhiều kền là Chocola, đậu khô, ngũ cốc...

Silic (Silicon)

Silic được tìm thấy trong tro của động vật vào năm 1848, năm 1901 báo cáo cho rằng Silic có nhiều trong gân, sụn và mắt, năm 1911 các nhà khoa học cho rằng Silic có tác dụng làm giảm sự cứng động mạch. Đến năm 1972 Silic được coi là thiết yếu cho gà và được nhìn nhận có giá trị trong dinh dưỡng (84)

Sự thẩm thấu Silic vào máu hiện chưa được rõ như trong một tường trình sự thẩm thấu khoảng 1%. Vai trò của Silic trong cơ thể được thấy trong sự biến năng xương và sụn, giúp cho đóng Calcium trong xương (85).

Sự thiếu Silic trong cơ thể ảnh hưởng đến sự cấu tạo xương và sụn, xương bị nhỏ, sụn bị yếu, chậm lớn.

Silic được coi như không nhiễm độc cho cơ thể và nhu cầu thiết yếu cho Silic vẫn chưa được ấn định, nhưng căn cứ vào sự thiết yếu Silic cho gà, người ta tạm ấn định cho người khoảng từ 21 đến 46mg mỗi ngày (86).

Trong những dấu hiệu ảnh hưởng đến bệnh lý của con người do thiếu Silic được thấy trong bệnh cứng động mạch, bệnh phong thấp xương, bệnh áp huyết cao cùng với dấu hiệu của sự mau già.

Silic có nhiều trong ngũ cốc và beer có tới 1.200Èg/g.

Vanađi (vanadium)

Vaniđi được báo cáo có tác dụng dược tính và độc tố vào năm 1912, nhưng tới năm 1940 khoa học vẫn chưa hiểu rõ được đặc tính và phản ứng của Vanađi trong cơ thể động vật. Năm 1963 các khoa học gia nhìn nhận Vanađi là một khoáng chất thiết yếu cho cơ thể nhưng chỉ cần số lượng rất ít. Từ năm 1971 đến 1974 các khoa học gia đã công nhận Vanađi cần cho sự dinh dưỡng (87).

Vanađi được thẩm thấu rất ít vào máu, khoảng dưới 30% tại ruột non. Tại máu Vanađi được kết phối với sắt và chất đạm đưa đến các tế bào.

- Vai trò của Vanađi trong cơ thể gồm có:

- Điều hòa sự bơm Sodium và Potassium trong tế bào cho quân bình điện giải trong và ngoài tế bào.

- Điều hòa sự biến năng của chất đường bằng cách kích thích sự biến năng Glucose và chuyển mang tồn trữ vào tế bào béo.

- Ngăn tế bào gan không cho biến đổi chất đạm chất béo ra thành chất đường

- Ngăn ngừa quá nhiều Glucose trong máu.

- Đối với chất béo Vanađi ngăn không cho sản xuất Cholesterol trong cơ thể, giảm sự tập trung quá nhiều Cholesterol trong động mạch.

- Ngoài ra còn có các tác dụng khác trong các điều tố và phụ điều tố trong vai trò điều hòa hoạt động của cơ thể.

Hiện nay chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự thiếu Vanađi ảnh hưởng đến cơ thể như thế nào được báo cáo, do đó không có triệu chứng nào được tường trình tại đây. Nhưng những tường trình về sự nhiễm độc Vanađi được thấy trong thần kinh, máu, gan, hệ thống miễn nhiễm. Quá nhiều Vanađi sinh ỉa chảy, ăn không thấy ngon và có thể chết (88).

Nhu cầu dưỡng sinh cho Vanađi rất ít khoảng từ 12,4 đến 30,1Èg mỗi ngày, trung bình khoảng 20Èg.

Thực phẩm có nhiều Vanadium là sò, ốc, nấm, hạt tiêu...
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 33478
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

Quay về Y HỌC - NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron