Những sự tích trong ngày Tết (12 con giáp từ đâu ra)

Những nét đặc trưng về những ngày lễ hội cổ truyền , những y phục và các nghi thức cũng như phong tục của từng miền đất nước

Những sự tích trong ngày Tết (12 con giáp từ đâu ra)

Gửi bàigửi bởi liemnguyen » Thứ 3 Tháng 2 09, 2010 9:37 pm

12 con Giáp từ đâu ra ?


Những sự tích trong ngày Tết

Hình ảnh

Ai nghĩ ra 12 con vật (Tý, Sửu, Dần, Mão…) của âm lịch? Con rồng có thật hay không? Giờ tính theo can chi có liên quan gì đến 12 con vật?

Người xưa quan niệm Thiên là căn bản gốc, Địa là ngọn ngành. Lập ra Thiên can người xưa lấy số Dương của Hà Đồ (số lẻ) là 1, 3, 5, 7, 9, lấy số 5 ở giữa gấp đôi lên để bao hàm cả âm can (Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý) và cả dương can (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm), tất cả 10 can theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Địa chi lấy số âm (số chẵn) là 2, 4, 6, 8, 10. Lấy số 6 ở giữa nhân gấp đôi để tạo thành 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi bao gồm cả dương chi (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) và âm chi (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi).

Thời xa xưa lấy mặt trời làm gốc. "Mặt trời mọc thì đi làm, mặt trời lặn thì nghỉ". Gặp hôm trời u ám không thấy mặt trời, thật chả biết dựa vào đâu. Tương truyền có một người tên là Đại Nhiêu đã lập ra Thập can và Thập nhi chi để tính thời gian.

Thập can và Thập nhi chi phối hợp với nhau để sinh ra Lục thập hoa giáp (chu kỳ 60 năm gọi là Ngyên). Lịch can chỉ ở 3 đời Hạ, Thương, Chu (bên Trung Quốc) không giống nhau. Hiện nay dùng lịch pháp đời Hạ, tức lấy tháng Dần làm khởi đầu của năm.

Việc tính giờ theo can chi cũng phần nào liên quan đến tập tính của các con vật.

Tý (23-1 giờ): Lúc chuột đang hoạt động mạnh.

Sửu (1-3 giờ): Lúc trâu đang nhai lại, chuẩn bị đi cày.

Dần (3-5 giờ): Lúc hổ hung hãn nhất.

Mão (5-7 giờ): Việt Nam gọi mèo, nhưng Trung Quốc gọi là thỏ, lúc trăng (thỏ ngọc) vẫn còn chiếu sáng.

Thìn (7-9 giờ): Lúc đàn rồng quây mưa (quần long hành vũ). Rồng chỉ là con vật do con người tưởng tượng ra, chứ không có thực.

Tỵ (9-11 giờ): Lúc rắn không hại người.

Ngọ (11-13 giờ): Ngựa có dương tính cao.

Mùi (13-15 giờ): Lúc dê ăn cỏ không ảnh hưởng tới việc cây cỏ mọc lại.

Thân (15-17 giờ): Lúc khỉ thích hú.

Dậu (17-19 giờ): Lúc gà bắt đầu lên chuồng.

Tuất (19-21 giờ): Lúc chó phải tỉnh táo để trông nhà.

Hợi (21-23 giờ): Lúc lợn ngủ say nhất.


Lai lịch tiền mừng tuổi


Theo truyền thuyết, ngày xưa có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm Giao thừa, thích xoa đầu trẻ nhỏ đang ngủ ngon giấc, khiến chúng giật mình khóc thét lên. Hôm sau trẻ nhức đầu, sốt cao, làm cho bố mẹ không dám ngủ, phải thức canh phòng yêu quái.

Có một cặp vợ chồng nọ khi đã ngoài 50 tuổi mới sinh được một mụn con trai kháu khỉnh. Tết năm đó, có 8 vị tiên dạo qua, biết trước cậu bé sẽ gặp nạn liền hóa thành 8 đồng tiền ngày đêm túc trực bên cậu bé. Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại và đặt lên gối con rồi ngủ. Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện vừa giơ tay định xoa đầu đứa trẻ thì từ chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực, khiến nó khiếp vía bỏ chạy.

Việc lấy giấy đỏ gói tiền được kể lại cho bà con hàng xóm. Mọi người vui mừng bắt chước làm theo. Về sau dần dần trở thành phong tục tiền mừng tuổi đầu năm và kéo dài đến tận nay.


Sự Tích Cây Nêu Ngày Tết

Ngày ấy không biết từ bao giờ và cũng không biết bằng cách gì, Quỷ chiếm đoạt tất cả đất nước. Người chỉ ăn nhờ ở đậu và làm rẽ đất của Quỷ. Quỷ đối với Người ngày càng quá tay. Chúng nó dần dần tăng số phải nộp lên gấp đôi và mỗi năm mỗi nhích lên một ít.

Cuối cùng chúng nó bắt Người phải nộp theo một thể lệ đặc biệt do chúng nó nghĩ ra là "Ăn ngọn cho gốc" Người không chịu, chúng nó lấy áp lực, bắt Người phải theo. Vì thế, năm ấy sau vụ gặt, Người chỉ còn trơ ra những rạ là rạ. Cảnh tượng da bọc xương thê thảm diễn ra khắp mọi nơi. Bên cạnh bọn Quỷ reo cười đắc ý. Người cơ hồ muốn chết tuyệt.

Phật từ phương Tây lại, có ý định giúp Người chống lại sự bóc lột tàn nhẫn của Quỷ. Sau mùa đó, Phật bảo Người đừng trồng lúa mà cào đất thành luống trồng khoai lang. Người cứ y lời làm đúng lời Phật dặn. Quỷ không ngờ Người đã bắt đầu có mưu kế mới chống lại mình nên cứ nêu đúng trong thể lệ như trước "Ăn ngọn cho gốc". Mùa thu hoạch ấy, Quỷ rất hậm hực nhìn thấy gánh khoai núc nỉu chạy về nhà Người đổ thành từng đống lù lù, còn nhà mình chỉ toàn những dây và lá khoai là những thứ không nhai nổi, thể lệ đã qui định, chúng nó đành cứng họng không thể chối cãi vào đâu được.

Sang mùa khác, Quỷ thay thể lệ mới là "Ăn gốc cho ngọn". Phật bảo Người lại chuyển sang trồng lúa. Kết quả Quỷ lại hỏng ăn. Những hạt lúa vàng theo Người về nhà, còn rạ phó mặc cho bọn Quỷ. Quỷ tức lộn ruột nên mùa sau chúng nó tuyên bố : "Ăn cả gốc lẫn ngọn". Lần này Quỷ nghĩ : -"Cho chúng mày muốn trồng gì thì trồng, đằng nào cũng không lọt khỏi tay chúng tao". Nhưng Phật đã bàn với Người thay đổi giống mới, Phật trao cho Người hạt giống cây ngô để gieo khắp nơi mọi chỗ.

Năm ấy lại một lần nữa Người sung sướng trông thấy công lao của mình không uổng. Trong nhà Người thóc ăn chưa hết thì từng gánh ngô đã tiến về chứa từng cót đầy ăm ắp. Về phần Quỷ lại bị một vố cay chua tức uất hàng mấy ngày liền. Cuối cùng Quỷ nhất định bắt Người phải trả lại tất cả ruộng đất không cho làm rẽ nữa. Trong bụng chúng nó nghĩ: -"Thà không được cái gì cả còn hơn là để cho chúng nó ăn một mình".

Phật bảo Người điều đình với Quỷ cho tậu một miếng đất vừa bằng bóng một chiếc áo cà sa. Nghĩa là Người sẽ trồng một cây tre trên có mắc chiếc áo cà sa, hễ bóng che bao nhiêu diện tích ở mặt đất là đất sở hữu của Người ở đó. Ban đầu Quỷ không thuận, nhưng sau chúng nó suy tính thấy đất tậu thì ít mà giá rất hời bèn nhận lời: "Ồ! Bằng một chiếc áo cà sa có là bao nhiêu". Chúng nó nghĩ thế, hai bên làm tờ giao ước: ngoài bóng che đất là của Quỷ, trong bóng che là của Người.

Khi Người trồng xong cây tre, Phật đứng trên ngọn tung áo cà sa bay tỏa ra thành một miếng vải tròn. Rồi Phật hóa phép làm cho cây tre cao vút mãi lên, đến tận trời. Tự nhiên trời đất trở nên âm u: bóng của áo cà sa dần dần che kín khắp cả mặt đất. Bọn Quỷ không ngờ có sự phi thường như thế, mỗi lần bóng áo lấn dần vào đất chúng, chúng phải dắt nhau lùi mãi. Cuối cùng Quỷ không có đất ở nữa phải chạy ra biển Ðông. Vì thế người ta mới gọi là Quỷ Ðông.

Tiếc vì đất đai hoa màu đều thuộc về tay Người, Quỷ rất hậm hực, cố chiêu tập binh mã vào cướp lại. Lần này Người phải chiến đấu với Quỷ rất gay go vì quân đội của Quỷ có đủ một bầy ác thú như voi, ngựa, chó, ngao, bạch xà, hắc hổ v..v... rất hung dữ. Phật cầm gậy tầm xích đánh giúp Người làm cho quân của Quỷ không tiến lên được.

Sau mấy trận bất lợi, Quỷ bèn cho quân đi dò xem Phật sợ gì, Phật cho chúng biết là sợ hoa quả, oản chuối và cơm nắm, trứng luộc. Ðối với Phật cũng dò hỏi và biết quân của Quỷ chỉ sợ độc có mấy thứ : máu chó, lá dứa, tỏi và vôi bột.

Lần giáp chiến sau đó, quân của Quỷ đem không biết cơ man nào là hoa quả đến ném Phật, Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi đem máu chó vấy khắp mọi nơi. Quân của Quỷ thấy máu chó sợ hoảng hồn bỏ chạy.

Lần thứ hai, quân của Quỷ lại đem oản chuối vào ném quân Phật. Phật bảo Người nhặt làm lương ăn giã tỏi phun vào quân địch. Quân của Quỷ không chịu được mùi tỏi nên cũng cắm đầu chạy biệt tích.

Lần thứ ba, quân của Quỷ lại đem cơm nắm, trứng luộc vào ném quân Phật. Người tha hồ ăn và theo lời Phật dùng vôi bột vung vào Quỷ. Người lại lấy lá dứa quất vào chúng. Quỷ chạy không kịp, lại bị Phật bắt đầy ra biển Ðông. Ngày Quỷ già, Quỷ trẻ, Quỷ đực, Quỷ cái cuốn gói ra đi, bộ dạng của chúng vô cùng thiểu não. Chúng rập đầu xuống đất cố xin Phật thương tình cho phép một năm được vài ba ngày vào đất liền thăm phần mộ của tổ tiên cha ông ngày trước, Phật thấy chúng khóc vang cả lên mới thương hại, hứa cho.

Vì thế, hàng năm cứ đến ngày Tết nguyên đán là ngày Quỷ vào thăm đất liền, thì người ta theo tục cũ, trồng nêu để cho Quỷ không dám bén mảng vào chỗ người đang ở. Trên nêu có bánh đất mỗi khi gió rung thì tiếng động phát ra để luôn luôn nhắc nhở bọn Quỷ nghe mà tránh. Cũng trên đó có buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hài để cho Quỷ sợ. Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía Ðông và rắc vôi bột xuống đất vào những ngày Tết để cấm cửa Quỷ. Có câu tục ngữ :

Cành đa lá dứa treo kiêu (cao)
Vôi bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà
Quỷ vào thì Quỷ lại ra
Cành đa lá dứa thì ta cứa mồm.

Ngày xưa người ta còn tin rằng những lúc cần đuổi Quỷ như khi có dịch tễ chẳng hạn, thì treo một nắm lá dứa ở trước ngõ hay vẩy máu chó khắp mọi nơi cho Quỷ khỏi quấy. Ðàn bà thường buộc tỏi vào dải yếm là cũng có một mục đích gần như vậy.

NGUYỄN ÐỔNG CHI
Truyện cổ Việt Nam tập II

"Việt Nam là suối
Phật giáo là ngưồn
Nguồn làm suối đẹp, nước tuôn hoài hoài.
Từ nguồn ra đến biển khơi
Việt Nam, Phật giáo đời đời bên nhau !"


Sự tích bánh chưng, bánh dầy

Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con.

Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: "Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho".

Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.

Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Liêu) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào.

Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: "Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành."

Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầỵ Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.

Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18.

Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất.



Từ Hoả Thần Ðến Táo Quân.


Trong thời tiền sử, những điểm hiện ra để phân biệt giữa loài người và loài thú có lẽ là việc dùng lửa là điểm thể hiện trước nhất, và là điểm quan trọng nhất trong suốt thời gian dài hàng vạn năm... Vì vậy trong lịch sử ta còn thấy nhiều dân tộc thờ thần lửa. Lửa chiếm một địa vị quan trọng trong Phệ Ðà Giáo (Vedaism), một tôn giáo tối cổ ở Ấn Ðộ, trong Bái Hỏa Giáo (Zoroastrianism)ở xứ cổ Ba Tư (Iran), v.v...

Hai dân tộc Hy Lạp và La Mã cũng dùng lửa làm trung tâm tôn giáo của họ. Ðây là hai dân tộc có một nền văn minh sớm nhất ở Âu Châu, và là cái nôi của nền văn minh Tây phương ngày nay.

Dân cổ Hy Lạp coi Prometheus là thần lửa vì đã cho loài người lửa mà vị thần này đã lấy cắp từ trên trời. Họ đã thờ thần lửa bằng cách không bao giờ để lửa tắt trên bàn thờ của mỗi nhà. Bàn thờ này dành riêng cho nữ thần Hestia, là thần lửa và cũng là thần bảo hộ cho gia đình, như ông Táo ở Việt Nam vậy.

Dân cổ La Mã cũng thờ nữ thần Hestia, nhưng đổi tên là Vesta. Vua La Mã là Numa Pompilius (715-672 tr. CN) đã thành lập một ban gồm có những thiếu nữ đồng trinh giữ nhiệm vụ gìn giữ ngọn lửa thiêng trong đền thờ nữ thần Vesta. Ngọn lửa thiêng này còn được thắp sáng ở cửa của mỗi nhà suốt ngày đêm. Dân La Mã thờ thần lửa lâu nhất trong tục thờ cúng thần linh. Ngọn lửa thiêng được thắp liên tục trong khoảng thời gian dài trên mười ngàn năm, tức là từ thời tiền sử tới năm 382 Công Nguyên, trong thời vua Gratian, một tín đồ Thiên Chúa Giáo. Nữ thần Vesta là thần bếp và lửa bếp.

Trước khi dân La Mã thờ nữ thần Vesta, họ đã thờ một nữ thần bếp khác tên là Caca. Họ còn thờ các thần Lares và Penates. Hai vị thần này gốc ở xứ Etruria (nay là Tuscany ở nước Ý), được thờ tại La Mã từ khi Etruria cai trị La Mã từ trước thế kỷ thứ 7 trước công nguyên tới năm 509 tr. CN. Thần Lares là thần bảo vệ và ngăn ngừa các tai họa cho mỗi gia đình, và là linh hồn của tổ tiên lúc nào cũng phù hộ con cháu. Thần Penates là thần phù hộ cho gia đình được sung túc. Chức năng của hai vị thần này cũng gần giống như ông Táo của Việt Nam.


Sự Tích Táo Quân Trung Quốc


Táo Quân của Trung Quốc là tên rút ngắn của danh hiệu Ðông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân, các ông này là những vị thần ở trên thiên đình được ông Trời sai xuống trần gian để cai trị loài người. Mỗi Táo Quân phụ trách một nhà với nhiệm vụ theo dõi những người trong nhà làm những điều thiện hay điều ác. Mỗi năm vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch các Táo Quân phải lên thiên đình để tâu với Ngọc Hoàng những việc thiện ác của dân gian trong một năm để Ngọc Hoàng thưởng phạt từng người tùy theo hành vi của họ. Do đó, ngày 23 tháng Chạp gọi là ngày tết Bách Thần Triều Thiên (trăm thần về chầu trời). Trong bẩy ngày phó hội trên thiên đình các Táo Quân được Ngọc Hoàng ban yến tiệc linh đình, được thưởng thức chín khúc nhạc, gọi là Quân Thiên Quảng Nhạc, và được xem những điệu múa lạ mắt của quần tiên mỹ lệ.

Dân Trung Quốc rất sợ Táo Quân. Họ coi các ông này như những viên công an đầy uy quyền do Ngọc Hoàng sai xuống hạ giới để dò xét mọi người trong gia đình. Với màng lưới công an dầy đặc như vậy thì làm sao có thể thoát khỏi tai mắt các Táo Quân. Nhưng dân Trung Quốc có óc thực tiễn, họ lý luận rằng ở hạ giới các viên chức nhà nước thích ăn hối lộ thì Táo Quân chắc cũng thế. Vì vậy, ngày 23 tháng Chạp là ngày cúng tiễn ông Táo bằng một mâm cỗ tam sinh (bò, heo, dê) và quà hối lộ là một cây mía (làm gậy đi đường), một dĩa bánh ngọt, một dĩa kẹo và một dĩa đường the. Dân Trung Quốc biết Táo Quân có tính hảo ngọt nên họ hối lộ những đồ ngọt đó để cầu xin ông đừng báo cáo những điều gì xấu của họ lên Ngọc Hoàng.



Sự Tích Ông Táo Việt Nam

Ngày xửa ngày xưa ở Việt Nam có hai vợ chồng trẻ sống trong vùng châu thổ sông Nhị (sông Hồng miền Bắc). Chồng tên là Trọng Cao, và vợ là Thị Nhi. Hai vợ chồng tuy lấy nhau đã lâu mà vẫn không có con nên tình nghĩa càng ngày càng lạnh nhạt rồi sinh ra cãi nhau như cơm bữa. Về sau người chồng trở nên nóng tính, mỗi khi cãi nhau chàng đánh vợ rất tàn nhẫn. Lúc này Thị Nhi mang lòng thù hận rồi một hôm, trong khi chồng làm việc ngoài đồng, nàng bỏ nhà ra đi, quyết không trở lại để tránh cái cảnh cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt.

Sau vài ngày đi lang thang, nàng bắt đầu lo lắng vì không nơi nương tựa. Một hôm, nàng đang ngồi nghỉ dưới gốc cây đa dọc đường thì có một chàng trai đi qua. Chàng tên là Phạm Lang, vẻ người khôi ngô, phúc hậu. Thấy một thiếu nữ có nhan sắc mà lại ngồi ủ rũ trên quãng đường thanh vắng nên chàng gợi chuyện để làm quen. Khi biết rõ cảnh ngộ đáng thương của Thị Nhi, chàng khẩn khoản mời nàng về nhà nhà để tạm trú. Nàng phân vân không biết phải xử trí như thế nào để khỏi trái với luân thường. Nhưng nghĩ đến thân gái lưu lạc, nàng đành phải nhận lời đến tá túc ở nhà Phạm Lang.

Một thời gian sau, Phạm Lang ngỏ lời muốn kết duyên vợ chồng với Thị Nhi, vì thương nàng là người nết na, hiền hậu mà lại gặp cảnh éo le, nhân duyên trắc trở, một thân phiêu bạt trên đường đời vô định. Thị Nhi thì cảm mến Phạm Lang vì chàng đã có từ tâm cứu nàng thoát khỏi cảnh gian nan. Từ đó Thị Nhi làm vợ Phạm Lang.

Khi Trọng Cao trở về thấy vợ chàng đã bỏ ra đi. Lúc này chàng mới thấy hối hận về hành động tàn nhẫn và nông nổi của mình đối với vợ. Chàng liền đi tìm vợ khắp làng trên xóm dưới, các vùng lân cận nhưng vẫn biệt vô âm tín. Chàng thương xót cho nàng vì sự nông nổi của mình mà phải gian truân lưu lạc. Thế là chàng quyết tâm đi tìm, dù có phải vượt thiên sơn vạn thủy.

Ngày lại ngày qua, chàng vẫn không tìm thấy tung tích Thị Nhi. Chàng kiên nhẫn đi xa, xa hơn nữa, đi mãi cho đế khi tiền lưng đã cạn, sức lực đã tàn. Một ngày kia, chàng cố lê bước tới một ngôi làng xa lạ với đôi chân rã rời, bụng dạ trống rỗng. Chính niềm hy vọng mãnh liệt đã là sức mạnh đưa chàng đến nơi đây. Khi tới giữa làng, hai đầu gối run rẩy không còn mang nổi tấm thân tàn, chàng ngã gục trước cổng một căn nhà. Ngay lúc đó, trong vườn nhà này có một thiếu phụ đang hái những nụ hoa mướp ở hàng rào cạnh cổng thấy thế nàng liền ra mở cổng thấy một người lạ đói rách, nằm gục trên thềm, tay chân đã bất động, sinh lực chỉ còn đọng trong hai con mắt lờ đờ. Khi nhìn sát mặt, nàng bỗng giật mình nhận ra kẻ khốn cùng đó chính là Trọng Cao, chồng cũ của nàng.

Thị Nhi quá xúc động, vội vực chàng vào nhà với đôi mắt ứa lệ. Nàng dọn cơm nước cho chàng ăn rồi để chàng nằm nghỉ. Cũng may hôm ấy Phạm Lang đi ăn giỗ mãi đến khuya mới về nên Trọng Cao được vợ chăm sóc chu đáo. Khi trời tối Thị Nhi đưa Trọng Cao ra trú ở đống rơm ngoài vườn để nàng sẽ tìm cách giải quyết ổn thỏa cuộc tình éo le của nàng và Phạm Lang, sau đó sẽ theo Trọng Cao về làng cũ.

Ðêm khuya hôm đó, sau khi Phạm Lang trở về, và đã ngủ một giấc thì chàng thức dậy, sực nhớ chàng đã quên đốt rơm để lấy tro bón ruộng. Thế là chàng lặng lẽ ra đống rơm ở ngoài vườn để đốt trong khi Thị Nhi và đứa nhỏ chàng nuôi để chăn trâu đang ngủ say. Cùng lúc đó,Trọng Cao đang ngủ say mê mệt trong đống rơm sau bao ngày mệt mỏi.

Khi ngọn lửa bốc cao, sáng cả một góc vườn, Thị Nhi bỗng giật mình thức giấc, thấy ánh lửa sáng ngoài vườn. Nàng biết rằng Phạm Lang đang đốt rơm liền chạy ra cứu Trọng Cao. Bất chấp ngọn lửa đang cháy đỏ, nàng xông vào đống rơm để lôi Trọng Cao ra, nhưng chàng đã chết, và nàng cũng bị ngọn lửa oan nghiệt thiêu chết. Phạm Lang quá đỗi kinh ngạc khi thấy vợ mình như mê sảng chạy vào đống lửa. Chàng vừa la vừa nhẩy vào đống rơm để cứu vợ, nhưng chàng cũng không thoát khỏi số phận khi chết tay còn nắm chặt Thị Nhị Trong khi đó, đứa nhỏ chăn trâu đang ngủ bỗng choàng dậy vì tiếng kêu la. Nó chạy ra vườn thì thấy cảnh tượng hãi hùng đang diễn ra trước mắt: chủ nó, Phạm Lang và vợ đang giẫy chết trong đống lửa. Nó liền chạy vào nhưng cũng bị lửa táp vào quần áo và chết theo chủ.

Sau khi tìm hiểu lý do thảm họa trên, dân làng tin rằng những người ấy đã gặp giờ thiêng nên chắc linh hồn họ cũng sẽ linh thiêng. Và dân chúng đã thần thánh hóa vong linh các nạn nhân đó bằng cách phong Phạm Lang làm Thổ Công, Trọng Cao làm Thổ Ðịa, và Thị Nhi làm Thổ Kỳ. Trong tín ngưỡng dân gian, đây là ba vị thần linh bảo hộ đời sống và là nguồn sống của mỗi gia đình mà dân gian đã tôn vinh với những chức năng rõ ràng của từng vị:

Thổ Công trông nom khu đất nơi nhà ở, tức thần bản thổ.

Thổ Ðịa trông nom khu đất canh tác, của cải và gia sự.

Thổ Kỳ trông nom việc canh tác (thóc lúa, hoa mầu), các công việc của phụ nữ (sinh đẻ, dệt vải, chợ bú), và tiếp nhận các sinh vật khi đã chết (chôn dưới đất).


o0o


Tục Múa Lân

Trong đời nhà Ðường, ở Trung Quốc có một bà già sống độc thân trong một khu rừng, kiếm ăn bằng nghề may quần áo. Một hôm, bà già phải đi đến một làng xa để nhận quần áo về may. Hôm đó đúng vào ngày rằm tháng Tám, bà già thấy dân làng làm cỗ bàn, bánh trái để ăn tết Trung Thu. Bà bắt chước họ ra chợ mua thịt và bánh trái về nhà để làm cỗ.

Khi trở về, bà bị một con sư tử già đã thành tinh xông ra vồ. Bà sợ hãi, xin sư tử cho bà về nhà làm cỗ trước đã, rồi sẽ nộp mạng cho sư tử sau. Con vật như thương hại bà lão nên đồng ý để bà già về nhà.

Sau khi ăn cỗ xong, mặt trăng đã tà, bà lão biết rằng con sư tử sắp đến ăn thịt bà nên khóc lóc rất thảm thiết. Bỗng nhiên có một con rết bò đến chân bà như làm hiệu bảo bà đừng sợ. Cái cối xay lúa ở góc nhà cũng tự nhiên quay tít. Trong khi bà già lo sợ, nằm vật vã trên giường thì con sư tử tiến vào để bắt bà mang đi. Bỗng nhiên con rết bò lên cắn vào đùi con ác thú một cái thật mạnh làm nó đau quá, kêu rống lên thật lớn và dơ thẳng hai chân trước lên. Chẳng may nó mất thăng bằng, té nhào xuống đất, đầu va ngay vào cái cối xay lúa đang quay tít làm nó chết tươi.

Bà già thấy con ác thú đã chết liền chạy đi tri hô cho mọi người biết. Họ vội cầm đèn đuốc chạy đến, khiêng con sư tử đến cung vua để lĩnh thưởng. Nhà vua mừng rỡ, cho phép đám dân khiêng xác con sư tử đi diễu khắp kinh thành để dân được trông thấy con ác thú đã giết hại rất nhiều lương dân, nay đã chết.

Từ đó, cứ đến đêm rằm tháng Tám dân Trung Quốc có tục rước và múa sư tử để kỷ niệm. Tục múa sư tử đêm Trung Thu đã du nhập qua các nước Việt Nam, Cao Ly, Nhật Bản, là những quốc gia đã một thời chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc.



Nguyễn Gia Liên ( Ðặc San Hoa Lư)

St.
Hình đại diện của thành viên
liemnguyen
 
Bài viết: 47
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 1 11, 2010 5:22 pm

Quay về PHONG TỤC TẬP QUÁN VIỆT

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron