THỨC ĂN ĐUỜNG PHỐ NHẬT BẢN -

Tất cả những gì về ẩm thực tông quát nằm ở trang này

THỨC ĂN ĐUỜNG PHỐ NHẬT BẢN - SUSHI NGAO ĐỎ SÒ HUYẾT

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 4 Tháng 10 10, 2018 10:18 pm



Link xem trực tiếp từ You Tube:
https://www.youtube.com/watch?v=K89sSd2KFGg

link duới đây để xem chế độ toàn màn hình:
http://www.youtube.com/embed/K89sSd2KFGg

Japan Street Food - RED CLAM Sushi Sashimi Japanese Seafood
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 32399
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

THỨC ĂN ĐUỜNG PHỐ NHẬT BẢN - NGAO KHỦNG SASHIMI

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 4 Tháng 10 10, 2018 10:34 pm



Link xem trực tiếp từ You Tube:
https://www.youtube.com/watch?v=nqs9D0L4P90

link duới đây để xem chế độ toàn màn hình:
http://www.youtube.com/embed/nqs9D0L4P90

Japanese Street Food - GIANT ALIEN CLAM Sashimi Okinawa Seafood Japan






Hình ảnh






Ngao khổng lồ
Ngao khổng lồ hoặc Tridacna gigas.jpg
Một cá nhân trực tiếp của Tridacna gigas, với lớp áo choàng hiển thị (Great Barrier Reef, Australia)
Tình trạng bảo quản

Dễ bị tổn thương (IUCN 2.3) [1]
Phân loại khoa học
Vương quốc animalia
Phylum: Nhuyễn thể
Lớp: Bivalvia
Đặt hàng: Heterodonta
Gia đình: Cardiidae
Họ: Tridacnidae
Chi: Tridacna
Phân nhóm: Tridacna (Tridacna)
Loài: T. gigas
Tên nhị thức
Tridacna (Tridacna) gigas
(Linnaeus, 1758)
Từ đồng nghĩa [2]
Chama gigantea Perry, 1811

Những con trai khổng lồ là thành viên của giống ngao Tridacna là loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ sống lớn nhất. Trên thực tế có một số loài “ngao khổng lồ” thuộc chi Tridacna, thường được xác định nhầm với Tridacna gigas, loài thường được gọi là “ngao khổng lồ”.

Tridacna gigas là một trong những loài ngao có nguy cơ bị tuyệt chủng cao nhất. Antonio Pigafetta đã ghi lại chúng trong tạp chí của ông vào đầu năm 1521. Một trong số các loài ngao lớn có nguồn gốc từ các rặng san hô cạn ở Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ, chúng có thể nặng hơn 200 kg (440 lb). Rộng 120 cm (47 in) và có tuổi thọ trung bình trong tự nhiên hơn 100 năm. [3] Chúng cũng được tìm thấy ngoài khơi Philippines và Biển Đông trong các rạn san hô của Sabah (Malaysia Borneo).

Loài ngao khổng lồ sống trong cát san hô phẳng hoặc san hô bị vỡ và có thể được tìm thấy ở độ sâu tới 20 m (66 ft). [4] Phạm vi của nó bao gồm Ấn Độ-Thái Bình Dương, nhưng dân số đang giảm nhanh chóng, và ngao khổng lồ đã trở nên tuyệt chủng ở nhiều khu vực mà nó đã từng là phổ biến. Ngao tối đa có sự phân bố địa lý lớn nhất trong số các loài ngao khổng lồ; nó có thể được tìm thấy trên các đảo cao hoặc thấp, trong các đầm phá hoặc rạn san hô. [5] Tốc độ tăng trưởng nhanh của nó có khả năng là do khả năng trồng tảo trong mô cơ thể của nó. [4]

Mặc dù ấu trùng ấu trùng là sinh vật phù du, chúng trở nên không đủ tuổi trưởng thành. Các mô lớp phủ của sinh vật hoạt động như một môi trường sống cho tảo dinoflagellate đơn bào cộng sinh (zooxanthellae) từ đó ngao trưởng thành nhận được phần lớn dinh dưỡng của chúng. Vào ban ngày, ngao mở vỏ và mở rộng mô của nó để tảo nhận được ánh sáng mặt trời mà chúng cần để quang hợp.


Giant clams
Giant clam or Tridacna gigas.jpg
A live individual of Tridacna gigas, with the mantle showing (Great Barrier Reef, Australia)
Conservation status

Vulnerable (IUCN 2.3)[1]
Scientific classification
Kingdom: Animalia
Phylum: Mollusca
Class: Bivalvia
Order: Heterodonta
Family: Cardiidae
Subfamily: Tridacnidae
Genus: Tridacna
Subgenus: Tridacna (Tridacna)
Species: T. gigas
Binomial name
Tridacna (Tridacna) gigas
(Linnaeus, 1758)
Synonyms[2]
Chama gigantea Perry, 1811

The giant clams are the members of the clam genus Tridacna that are the largest living bivalve mollusks. There are actually several species of "giant clams" in the genus Tridacna, which are often misidentified for Tridacna gigas, the most commonly intended species referred to as “the giant clam”.

Tridacna gigas is one of the most endangered clam species. Antonio Pigafetta documented these in his journal as early as 1521. One of a number of large clam species native to the shallow coral reefs of the South Pacific and Indian oceans, they can weigh more than 200 kilograms (440 lb), measure as much as 120 cm (47 in) across and have an average lifespan in the wild of over 100 years.[3] They are also found off the shores of the Philippines and in the South China Sea in the coral reefs of Sabah (Malaysian Borneo).

The giant clam lives in flat coral sand or broken coral and can be found at depths of as much as 20 m (66 ft).[4] Its range covers the Indo-Pacific, but populations are diminishing quickly, and the giant clam has become extinct in many areas where it was once common. The maxima clam has the largest geographical distribution among giant clam species; it can be found off high- or low-elevation islands, in lagoons or fringing reefs.[5] Its rapid growth rate is likely due to its ability to cultivate algae in its body tissue.[4]

Although larval clams are planktonic, they become sessile in adulthood. The creature's mantle tissues act as a habitat for the symbiotic single-celled dinoflagellate algae (zooxanthellae) from which the adult clams get most of their nutrition. By day, the clam opens its shell and extends its mantle tissue so that the algae receive the sunlight they need to photosynthesise.
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 32399
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

THỨC ĂN ĐUỜNG PHỐ NHẬT BẢN - ỐC MÓNG RỦA

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 4 Tháng 10 10, 2018 11:16 pm

Hình ảnh




Link xem trực tiếp từ You Tube:
https://www.youtube.com/watch?v=oEGsN3R9Yyg

link duới đây để xem chế độ toàn màn hình:
http://www.youtube.com/embed/oEGsN3R9Yyg

Japanese Street Food - TURTLE HANDS Barnacle Tempura Okinawa Seafood Japan
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 32399
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

THỨC ĂN ĐUỜNG PHỐ NHẬT BẢN - ÓC HOÀNG HẬU

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 4 Tháng 10 10, 2018 11:34 pm



Link xem trực tiếp từ You Tube:
https://www.youtube.com/watch?v=t7tHhxKRYGw

link duới đây để xem chế độ toàn màn hình:
http://www.youtube.com/embed/t7tHhxKRYGw

Japanese Street Food - GIANT SEA SNAIL Seafood Okinawa Japan\\





Hình ảnh
Đây là ốc 'hoàng hậu'


Hình ảnh
Ốc hoàng hậu còn được gọi với khá nhiều tên như ốc tù và, ốc nữ hoàng, ốc bông, thậm chí nhiều người còn gọi chúng là ốc “quý tộc




Hình ảnh




Hình ảnh



Hình ảnh
Ngoài món ốc nướng mỡ hành, ốc hoàng hậu còn được dùng làm gỏi, nướng
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 32399
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

THỨC ĂN ĐUỜNG PHỐ NHẬT BẢN -CUA HUỲNH ĐẾ

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 5 Tháng 10 11, 2018 2:04 pm

Hình ảnh
CUA HUỲNH ĐẾ

Tên tiếng anh: Red frog crab
Tên khoa học: Ranina ranina
Tên gọi khác: Spanner crab
Phân loại
Ngành:Arthropoda
Lớp:Malacostraca
Bộ:Decapoda
Họ:Raninidae
Giống:Ranina
Loài:Ranina ranina
Linnaeus, 1758

Đặc điểm
Cua huỳnh đế to bằng bàn tay xòe, mình khum tròn, nhìn giống con bọ khổng lồ hay có con hình dáng như loài rùa, đầu cua hơi chúi xuống, có màu đỏ hồng, mai hình vuông, càng và que ngắn, đầu cua dài và có nhiều râu. Cua Huỳnh đế có những con ở vùng biển nước sâu nặng hơn 1 ký.

Cua có bộ áo giáp dày và cứng có màu vàng rực như hoàng bào hay chiến bào, li ti gai nhọn xuôi theo thân, que và càng to, cạnh sắc lẻm như dao. Thịt cua huỳnh đế thơm ngon, bổ dưỡng, thớ thịt cua săn chắc, trắng muốt nhô và độ đạm cao.

Phân bố
Cua phân bố nhiều ở vùng biển phía Đông Nam Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, cua Huỳnh đế xuất hiện nhiều ở vùng biển sạch, có đáy cát vàng và nguồn nước trong xanh như các vùng biển Quy Nhơn (Bình Định), Tuy Phong (Bình Thuận), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi). Đây là một loài hải sản có giá trị kinh tế cao và được làm nguyên liệu chế biến thành những món đặc sản.

Tập tính
Cua Huỳnh đế chỉ rộ nhất vào mùa xuân, khoảng từ tháng 12 đến tháng 3 âm lịch ở Việt Nam. Thông thường những tháng mùa xuân, biển trở ngọn gió nồm, rất êm nên khuyến khích loại cua sinh sản và đi tìm thức ăn.

Sinh sản
Cập nhật...

Hiện trạng
Cua huỳnh đế là đặc sản từ vùng biển Quảng Ngãi đến Bình Định. Loài cua này trước đây dùng để tiếng cống cho các vị vua ở Việt Nam vì tương truyền họ ăn thấy ngon, tốt cho sức khỏe. Cua huỳnh đế có thể chế biến các món như rang me, rang muối, nướng... nhưng ngon nhất và đơn giản trong chế biến vẫn là món hấp ăn với muối tiêu ớt xanh hoặc luộc lấy thịt phi hành, gia vị rồi nấu cháo. So với các loại hải sản khác, cua Huỳnh đế khẳng định đẳng cấp về chất lượng mà lâu nay được ví ngang với cá tuyết đen, cá hồi đỏ...

Về khai thác ở Việt Nam, khoảng cuối đông đến tháng tư năm sau, khi gió xuân về là lúc ngư dân vào mùa đánh bắt cua huỳnh đế. Giã cào, lưới đánh đằm... là những phương tiện đánh bắt cua thường thấy. Ngư dân miền Trung Việt Nam có thể đánh bắt bằng lưới giã cào, nhưng để có được những chú cua với số lượng nhiều, chắc thịt thì phải dùng một dụng cụ gọi là rập. Rập để bẫy cua huỳnh đế có hình dạng như chiếc nón, được gắn mồi tươi ở chính giữa. Mỗi thuyền ra khơi thường trang bị từ 200 - 300 cái rập, khi thả mỗi cái cách nhau chừng 5m. Cua rúc vào đó ăn mồi và sập bẫy trong các rập.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
http://en.wikipedia.org/wiki/Ranina_ranina
http://vi.wikipedia.org/wiki/Cua_Hu%E1% ... 1%E1%BA%BF

Cua huỳnh đế có tên tiếng Anh là Spanner Crab, Frog Crab, Red Frog Crab...tên khoa học là Ranina Ranina. Loài cua kỳ lạ này kiếm ăn chủ yếu ban đêm, ban ngày vùi mình trong đáy cát ở độ sâu hàng trăm mét. Vùng phân bố của chúng dọc bờ biển phía đông của Úc, từ Queensland đến bờ nam New South Wales; nhưng nơi có sản lượng dồi dào lại là phía tây nam đảo Mindanao, Philippines. Chúng cũng được tìm thấy ở bờ biển phía đông của Châu Phi, băng qua Ấn Độ dương đến Indonesia, Nhật Bản, đảo Hawaii và Việt Nam.

Cua huỳnh đế có giá trị dinh dưỡng và chất lượng thịt hảo hạng nhất trong số các loại cua phân bố tại các vùng biển Việt Nam. Có những con ở vùng biển nước sâu nặng hơn 1kg.

Thịt cua huỳnh đế thơm ngon, bổ dưỡng, thớ thịt cua săn chắc, trắng muốt và độ đạm cao, chứa nhiều Omega-3 EPA, Omega-3 DHA và Omega-6 AA

Cua huỳnh đế chỉ rộ nhất vào mùa xuân, khoảng từ tháng 12 đến tháng 3 âm lịch ở Việt Nam. Thông thường những tháng mùa xuân, biển trở ngọn gió nồm, rất êm nên khuyến khích loại cua sinh sản và đi tìm thức ăn. Chúng sinh sống ở những vùng biển nước rất lạnh, sâu từ 200 - 400m và chỉ xuất hiện vào những ngày biển động hoặc mùa xuân nên việc săn bắt loài cua này khó khăn và nguy hiểm. Vào mùa, có những ghe chuyên đi đánh rập để bắt loại cua này, chỉ có đánh rập thì cua mới sống được,cho nên vào mùa mới có cua sống sản lượng lớn.

Tên gọi cua huỳnh đế được lý giải khá thú vị, giai thoại xảy ra ở vùng biển nay thuộc Sa Huỳnh, Quảng Ngãi. Nguyên thủy tên cua là "hoàng đế", nhưng thuở xưa quan địa phương lệnh dân phải đọc trại đi vì sợ phạm húy (chúa Nguyễn Hoàng). Theo lời kể của các lão ngư dân miền Trung, ngày xưa, khi vua du ngoạn ở vùng biển đẹp này, thấy ngư dân nơi đây đánh bắt được loại cua lạ, có màu đỏ hồng như chiến bào, hình dáng như loài rùa nên ăn thử. Ăn thấy ngon, tốt cho sức khỏe nên vua truyền cho các địa phương có loại cua này phải dâng lên hoàng cung. Từ đó tên gọi cua huỳnh đế còn gọi là hoàng đế, cua vua lưu truyền trong dân gian.



Link xem trực tiếp từ You Tube:
https://www.youtube.com/watch?v=liEcLbM2gII

link duới đây để xem chế độ toàn màn hình:
http://www.youtube.com/embed/liEcLbM2gII

Japanese Street Food - RANINA RANINA CRAB Okinawa Japan Seafood
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 32399
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

THỨC ĂN ĐUỜNG PHỐ NHẬT BẢN - CÁ CHUỒN TOBIKO ORANGE

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 5 Tháng 10 11, 2018 7:19 pm



Link xem trực tiếp từ You Tube:
https://www.youtube.com/watch?v=aSGhOVq8kzc

link duới đây để xem chế độ toàn màn hình:
http://www.youtube.com/embed/aSGhOVq8kzc

Japanese Street Food - ORANGE FLYING FISH Sashimi Okinawa Seafood Japan



Tobiko (とびこ) is the Japanese word for flying fish roe. It is most widely known for its use in creating certain types of sushi. The eggs are small, ranging from 0.5 to 0.8 mm. For comparison, tobiko is larger than masago (capelin roe), but smaller than ikura (salmon roe).
Tobiko (と び こ) là từ tiếng Nhật để đánh trứng cá. Nó được biết đến rộng rãi nhất để sử dụng trong việc tạo ra một số loại sushi. Những quả trứng nhỏ, từ 0,5 đến 0,8 mm. Để so sánh, tobiko lớn hơn masago (capelin roe), nhưng nhỏ hơn ikura (trứng cá hồi).
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 32399
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

THỨC ĂN ĐUỜNG PHỐ NHẬT BẢN - CÁ HEO NỤC KHỦNG -GIANT MAHI MA

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 5 Tháng 10 11, 2018 8:09 pm



Link xem trực tiếp từ You Tube:
https://www.youtube.com/watch?v=KYbCBfUHuas

link duới đây để xem chế độ toàn màn hình:
http://www.youtube.com/embed/KYbCBfUHuas

Japanese Street Food - GIANT MAHI MAHI FISH Japan Seafood

- Cá nục heo cờ (Dorado- Mahi Mahi-Dolphin Fish) là một loài cá thuộc họ Cá nục heo. Loài này sinh sống gần bề mặt thường là từ độ sâu 5 và 10 m. Chúng ăn gần như tất cả các loại cá và động vật phù du, nhưng cũng có xu hướng bắt động vật giáp xác. Loài cá này trưởng thành tính dục lúc 4-5 tháng.





Hình ảnh
CÁ HEO NỤC

Mahi-mahi là một loài cá thường gặp ngoài khơi tại các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới khắp nơi trên thế giới, thường trong vùng nước ấm, nhiệt độ từ 21 đến 30 độ C. Cá là một trong 2 loài của họ cá Corypha enidae, cùng với cá Pompano sharkfish. Tuy tên Anh ngữ của cá là Dolphin-fish nhưng cá thật sự không phải là dolphin = cá heo (một động vật sống trong biển cả).

Mahi-mahi, ngoài vai trò dùng làm thực phẩm, còn được xem là một loài cá được câu thể thao, ưa chuộng do vẻ đẹp và màu sắc của cá. Cá phân bố rộng rãi trong vùng biển Caribbean, vùng biển phía Tây của Bắc và Nam Mỹ, vùng biển Ðông Nam Á. Tại Châu Âu vùng biển Malta là nơi tập trung lượng mahi-mahi khá cao. Hoa Kỳ và các quốc gia Caribbean tiêu thụ khá nhiều mahi-mahi, Âu Châu và Nhật cũng có nhu cầu tiêu thụ càng ngày càng cao. Cá mahi-mahi hiện là loài cá chính được dùng làm thực phẩm tại Nhật. Thị trường thế giới mỗi năm tiêu thụ từ 66 đến 88 triệu pounds mahi-mahi. Tổng sản lượng cá đánh bắt trên toàn thế giới, trong năm 1999, theo FAO là 31,805 tấn: Các quốc gia có lượng đánh bắt cao nhất là Nhật (9278 tấn) , Ðài Loan (8560 tấn). Năm 2004, Hoa Kỳ đánh bắt 1,465 tấn (thương mãi) tại vùng biển Hawaii (69%), Florida (15.%), North Carolina (8 %), trong khi đó lượng cá câu chơi (thể thao) lên đến 4,800 tấn! Quốc gia nhập cảng Mahi-mahi nhiều nhất là Taiwan (34% thị trường thế giới), Peru (26%), Ecuador (21%), Việt Nam nhập cảng khoảng 5 %.

Tên khoa học và các tên khác:

Coryphaena hippurus thuộc họ cá Coryphaenidae.
Tên Anh-Mỹ: Mahi-mahi (Hawaii); Dolphin-fish; Tây Ban Nha: Lampuga, Dorado maverikos, Lampuki (Malte). Pháp: Coriphène. Ðức: Goldmackrele.
Thái Lan: Pla na mawn; Mã Lai: Belitong, golok; HongKong: Ngau-tau yue; Nhật Shiira.
Mahi-mahi, theo thổ ngữ Polynesia, là 'Mạnh Mạnh'.

Ðặc tính sinh học:

Cá Mahi-mahi có thân dẹp và vây lưng dài, kéo dài gần như toàn bề dài của thân. Vây hậu môn cong, lõm vào rất rõ rệt. Cá có màu sắc khá đặc biệt: vàng hai bên, xanh sáng hay lục bên cạnh và nơi lưng. Cá đực (gọi là bull) truởng thành có trán nhô ngay đầu. Cá mái có đầu tròn. (Cá đực và mái có thân dạng giống nhau, ngoại trừ hình dáng của đầu, và cá mái thường nhỏ hơn cá đực). Cá nặng trung bình 7-13 kg, tuy nhiên có thể đến 18 kg, dài từ 60 đến 85 cm, có thể 2m.

Khi cá bị kéo lên khỏi mặt nước, thân cá thay đổi màu sắc nhiều lần (do đó cá có tên Tây Ban Nha là Dorado Maverikos), và sau cùng là màu vàng-xám khi cá chết.

Mahi-mahi có thể sống 4-5 năm (cá đực sống lâu hơn cá mái), nhưng thường chỉ thọ được 2 năm! Cá thuộc loại tăng truởng nhanh, trọng lượng tăng
lên..hàng ngày! Cá trưởng thành sau 1 năm, bơi rất nhanh và rất khỏe, vận tốc lên đến 50 knots, nhảy vọt khỏi mặt nước để đuổi bắt cá chuồn, loại thực phẩm mà chúng ưa thích nhất. Mahi-mahi phát dục sớm lúc 4-5 tháng tuổi. Cá đẻ trứng theo dòng nước ấm tại đại dương, cá mái nhỏ có thể đẻ đến 240 ngàn trứng và cá mái lớn, cỡ dài hơn 43 inches có thể đẻ hàng triệu trứng. Trứng và cá con sống bám vào rong, tảo biển nâu loại Sargassum. Mahi-mahi ăn tạp, được xem là một 'máy tiêu thụ'. Cá kiếm ăn ban ngày, thực phẩm của cá có thể là cá nhỏ, cua, mực..rong biển.

Mahi-mahi có thói quen bơi thành đàn nhỏ quanh những vật, phao nổi, hay thân cây nổi, và dễ bị thu hút bởi thuyền bè trôi giạt. Ðặc tính này đã được các ngư phủ Malta khai thác, tạo ra phương pháp đánh bắt cá kannizzati: Phương thức nhẳm đánh bắt cả mahi-mahi lẫn cá dẫn đường Naucrates ductor, mùa bắt cá kéo dài trong khoảng tháng 8 đến 12, khi cả loài cá này cùng xuất hiện trong vùng biển Malta: Các phao nổi được neo trong nước, chờ khi cá tụ tập sẽ dùng luới để kéo và kết quả rất cao. Tại Nhật và Seychelles cũng có những vùng áp dụng phương thức này.

Thành phần dinh dưỡng:
100 gram (phần ăn được) chứa:
- Calories 85
- Chất béo 0.7 g
- Acid béo bão hòa 0.188 g
- Cholesterol 73 mg
- Chất đạm 18.5 g
- Sodium 88 mg
- Potassium 392.2 mg
- Sắt 1.2 mg
- Magnesium 28.8 mg
- Selenium 36.5 microgram
- Vitamin B12 0.57 microgram
- Niacin 5.77 mg
- Vitamin B6 0.33 mg

Về phương diện dinh dưỡng, Mahi-mahi được xem là một loại cá chứa nhiều chất đạm, ít chất béo, cung cấp nhiều vitamin B-6 và B12. Lượng khoáng chất như Sắt, Magnesium và Potassium cũng tương đối cân bằng. Cá cũng cung cấp một lượng đáng kể Acid béo Omega-3: khoảng 110 mg DHA, lượng EPA không đáng kể. Tuy nhiên nếu đánh bắt được mahi-mahi, cần uớp lạnh ngay để tránh bị nhiễm trùng (gây ngộ độc loại scombroid). Vị của cá sẽ ngon hon nếu cắt bỏ đuôi và để cá chảy hết máu rồi làm đông lạnh.

Tại Hawaii, cá mahi-mahi rất được ưa chuộng: Món ăn nổi tiếng Darne de mahi-mahi là cá cắt thành khoanh dày chừng 2cm, lóc da và xương, bọc bột và nhúng vào hỗn hợp trứng đánh đều trộn sữa, muối, tiêu.. Ướp qua đêm rồi chiên bơ thật nóng.

Tại HongKong: Cá được dùng duới dạng cá hấp và cá chiên

Tại Malta: Món cá mahi mahi nổi tiếng nhất thế giới là Lampuki Pie: Cá cắt khúc, lăn bột và chiên sơ bằng dầu olive, sau đó được nhồi trong vỏ bánh và đút lò cùng với gia vị như tiêu, hành tỏi..

Vài nghiên cứu khoa học về Mahi-mahi:

Trọng lượng và chiều dài thân của Mahi-mahi tại vùng biển Baja:

Nghiên cứu thực hiện tại Viện Khoa Học Pesca, Mễ Tây Cơ về cá mahi-mahi ghi nhận trong số 3200 mẫu cá đánh bắt ngoài khơi vùng biển Baja, Thái Bình dương: Chiều dài thân cá lớn nhất là 192 cm, trọng lượng đến 30 kg. Tỷ lệ cá đực cao hơn vào mùa Xuân. Cá mahi-mahi tại Baja có thể đánh bắt được tại Nam California.

Vấn đề thủy ngân trong cá mahi-mahi:

Vấn đề cá biển bị nhiễm thủy ngân đã được bàn luận khá nhiều trong các nghiên cứu khoa học. Trong các loại cá đánh bắt trong vùng Ấn Độ Dương, lượng thủy ngân được ghi nhận: Cá kiếm (Swordfish) có lượng thủy ngân cao nhất, sau đó đến cá ngừ vây vàng (Yellowfin Tuna), Skipjack..và Mahi-mahi. Lượng thủy ngân tùy thuộc vào khối lượng thân cá, không phân biệt cá đực hay mái. Theo khuyến cáo của WHO, nên giới hạn ăn cá mahi-mahi ở mức 4-5 ngày/mỗi tuần và mỗi ngày chỉ ăn một bữa ăn cá mahi-mahi (trong khi đó chỉ nên ăn mỗi tuần một bữa cá kiếm, hay tránh dùng cá kiếm nơi phụ nữ có thai).

Kỹ thuật hun khói mahi-mahi:

Tại Hawaii, và một số quốc gia Âu Châu như Tây Ban Nha, Hy Lạp, cá mahi-mahi, ngoài cá tươi, còn được hun khói và uớp muối. Kỹ thuật uớp muối và hun khói ghi nhận: Ướp muối 1.97% phối hợp với hun khói (phenol 42ppm) dưới áp suất cao 300 MPa ở 20 độ C có đủ khả năng làm ngưng hoạt động của các vi khuẩn gây lên men lactic, Listeria monocytogenes, tuy nhiên nếu tăng độ muối lên 2.93% và 82 ppm phenol, các vi khuẩn bị ức chế sau cả hon 100 ngày tồn trữ..(Instituto del Frio, Tây Ban Nha).

Tài liệu sử dụng:

Mediterranean Seafood (Alan Davidson)
Seafood of South-East Asia (Alan Davidson)
The Encyclopedia of Healing Foods (Michael Murray)
FAO Species Fact Sheets
MBA-SeaFoodWatch- Dolphinfish-Final Report
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 32399
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

THỨC ĂN ĐUỜNG PHỐ NHẬT BẢN - CÁ CHÀO MÀO "KHỦNG"

Gửi bàigửi bởi hinhtran » Thứ 6 Tháng 10 12, 2018 2:04 am



Link xem trực tiếp từ You Tube:
https://www.youtube.com/watch?v=A978LFHPOnA

link duới đây để xem chế độ toàn màn hình:
http://www.youtube.com/embed/A978LFHPOnA

Japanese Street Food - SEA ROBIN FISH Sashimi Okinawa Seafood Japan





Hình ảnh

These aesthetically terrifying creatures got a bad rap because they’re often caught by fishermen who are seeking fluke. They live in the same areas as fluke, and mostly eat the same diet of small fish and crabs. Because of this, they have similarly delicate flavors, but with a meaty texture and thicker skin. They get their name from their big, wing-like fins.

Historically, they’ve often been discarded in the U.S. Their large, bony skulls led would-be cooks to believe that the fish didn’t have much meat on them. In fact, their tails carry two thick, meaty fillets. In France, sea robins have been starring in bouillabaisse for ages.

But Geringer-Dunn thinks that sea robins deserve a chance on plates in the U.S., as well. The preparation isn’t harder than a more familiar fish. To get to the filets, first descale the fish. Geringer-Dunn used a specialty fish descaler, but the same effect can be achieved with a sharp kitchen knife. Next, place a knife below the head, cut in, and slide the knife down the body of the fish to remove the filets in one clean motion. A sharp knife is essential. The skin is on a sea robin is a little thick, so it’s not ideal for raw preparations, but could work with a nice sear. For this preparation, Adam discarded the skin. For ambitious chefs, reserve the roe sac to eat on buttered toast, and keep the skeleton for making stock.

To make a quick ceviche, Geringer-Dunn cubed the fresh sea robin filets. The cubes should be small enough that more than one can fit on a spoon. Toss the fish in a bowl, and flavor with whatever you please. Citrus juice is the essential ingredient to make this a ceviche, and Geringer-Dunn’s simple preparation uses lime juice, red onion, blood oranges, a lovely orange-infused olive oil, mint, cilantro, and Maldon salt. Toss the ingredients together lightly. Letting the ceviche sit in the fridge for a few hours will give the fish time to absorb some of the lime juice flavors, but it isn’t strictly mandatory. Dig right in with a spoon or, better yet, a corn chip.

To see this process in action, check out the video above. For more lessons in seafood, head to Eater’s Facebook page Thursdays at 11 a.m. to catch new episodes of Fresh Catch. Each week Geringer-Dunn will walk live viewers through preparation of a sustainable fish, mollusk, crustacean, or bivalve.
Những sinh vật đáng sợ về mặt thẩm mỹ này có một bài rap tồi tệ vì chúng thường bị bắt bởi những ngư dân đang tìm kiếm cảm giác sáo. Chúng sống trong cùng khu vực như bệnh sán lá, và chủ yếu ăn cùng chế độ ăn cá và cua nhỏ. Bởi vì điều này, họ có hương vị tinh tế tương tự, nhưng với một kết cấu thịt và da dày hơn. Họ lấy tên của họ từ những cái vây to như cánh.

Trong lịch sử, chúng thường bị loại bỏ ở Hoa Kỳ Những hộp sọ lớn, xương sọ của họ dẫn đầu sẽ là đầu bếp để tin rằng cá không có nhiều thịt trên chúng. Trong thực tế, đuôi của họ mang theo hai phi lê dày, thịt. Ở Pháp, cướp biển đã được diễn viên trong bouillabaisse cho lứa tuổi.

Nhưng Geringer-Dunn nghĩ rằng cướp biển cũng xứng đáng có cơ hội lên đĩa ở Mỹ. Việc chuẩn bị không khó hơn một con cá quen thuộc hơn. Để có được các philê, đầu tiên descale cá. Geringer-Dunn đã sử dụng chất khử cặn cá đặc biệt, nhưng hiệu ứng tương tự có thể đạt được bằng dao nhà bếp sắc bén. Tiếp theo, đặt một con dao dưới đầu, cắt và trượt con dao xuống cơ thể của cá để loại bỏ các philê trong một chuyển động sạch. Một con dao nhọn là điều cần thiết. Da trên một chiếc áo choàng biển hơi dày, vì vậy nó không phải là lý tưởng cho việc chuẩn bị nguyên liệu, nhưng có thể làm việc với một sear đẹp. Để chuẩn bị này, Adam loại bỏ da. Đối với những đầu bếp đầy tham vọng, hãy đặt túi trứng để ăn bánh mì nướng, và giữ bộ xương để làm kho.

Để tạo ra một ceviche nhanh chóng, Geringer-Dunn thu nhỏ các philê robin biển tươi. Các hình khối phải đủ nhỏ để có thể vừa với một cái muỗng. Quăng cá trong một cái bát, và hương vị với bất cứ điều gì bạn vui lòng. Nước ép cam quýt là thành phần thiết yếu để làm món ceviche này, và chế phẩm đơn giản của Geringer-Dunn sử dụng nước cốt chanh, hành tây đỏ, cam, một loại dầu ôliu cam quýt, bạc hà, rau mùi và muối Maldon. Quăng các thành phần với nhau nhẹ nhàng. Để ceviche ngồi trong tủ lạnh trong vài giờ sẽ cho thời gian cá hấp thụ một số hương vị nước cốt chanh, nhưng nó không phải là bắt buộc. Đào ngay bằng thìa hoặc, tốt hơn là một con chip ngô.

Để xem quy trình này hoạt động, hãy xem video ở trên. Để có thêm bài học về hải sản, hãy đến trang Facebook của Eater vào thứ Năm lúc 11 giờ sáng để xem các tập mới của Fresh Catch. Mỗi tuần Geringer-Dunn sẽ hướng dẫn người xem trực tiếp thông qua việc chuẩn bị cá bền vững, nhuyễn thể, giáp xác hoặc hai mảnh vỏ.
Hình đại diện của thành viên
hinhtran
Site Admin
 
Bài viết: 32399
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 1 07, 2010 9:40 pm

Trang trước

Quay về ẲM THỰC TỔNG QUÁT

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: hinhtran23 khách